LỢI ÍCH CỦA ĐỌC SÁCH

KHO SÁCH

THƯ MỤC QG VIỆT NAM

video kể chuyện Bác Hồ

Ảnh ngẫu nhiên

LUY_1.jpg LUY_2.jpg LUY_3.jpg LUY_4.jpg LUY_5.jpg LUY_6.jpg Tiet_doc_lich_su.jpg Z7100585151754_7e984bd24e94a9f030378dc71e2a85e0.jpg Anhnensachfullhdtuyetdep_012539950.jpg Z5048750585930_112_5de568bc875290bb931b971d7158ae26.jpg Dia_z6122216831673_1bb9366456dbb2b709f71458b2f429fc.jpg Lanh__z6312870830186_39a8519966d8a8991be9af901c79c197.jpg Cachvequyensach1.png Pngtreeastackofbookscartoonillustrationimage_1447343.jpg Z5448522305441_b208b6841956114c65cff7bce1eb57ac.jpg Dia_z6122216975429_8031fe516af109bbdd2f05b8c6d76785.jpg Dia_z6122216688261_39c106d419b0f78d164b514c1dc437d4.jpg Z5914126780381_b9b0d5f38fbf4b10863d38a7c5c15794.jpg Z5914126675841_ce202ff431e3eef9fd6a69f712806c93.jpg

sách thiếu nhi

THỐNG KÊ BẠN ĐỌC

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Đơn điệu
    Bình thường
    Ý kiến khác

    Hỗ trợ trực tuyến

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Các ý kiến mới nhất

    SÁCH NÓI

    Chào mừng quý vị đến với thư viện số trực tuyến

    Hướng dẫn đọc sách trực tuyến. Chọn sách mà bạn muốn đọc, chọn mũi tên để di chuyển trang. Đăng ký thành viên để tải tài liệu

    TLBD GV văn 10. CD

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: lê thị lành (trang riêng)
    Ngày gửi: 11h:13' 30-09-2024
    Dung lượng: 1.8 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN

    NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC HUẾ
    CÔNG TY ĐẦU TƯ XUẤT BẢN – THIẾT BỊ GIÁO DỤC VIỆT NAM

    TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN
    SỬ DỤNG SÁCH GIÁO KHOA

    NGỮ VĂN 10
    CÁNH DIỀU

    HÀ NỘI – 2022

    TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN

    MỤC LỤC
    Nội dung

    Trang

    Phần thứ nhất: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

    5

    I. CHƯƠNG TRÌNH MÔN NGỮ VĂN

    5

    1. Chương trình 2018: mục tiêu và yêu cầu đổi mới cách dạy

    5

    2. Quy định của Chương trình Ngữ văn 2018 đối với lớp 10

    8

    3. Sự thống nhất về Chương trình và đa dạng hoá sách giáo khoa

    10

    II. THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 10

    18

    1. Đội ngũ tác giả

    18

    2. Quan điểm biên soạn sách Ngữ văn 10

    18

    3. Cấu trúc sách Ngữ văn 10

    19

    Phần thứ hai: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VÀ ĐÁNH GIÁ

    29

    I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG

    29

    1. Quan niệm về sách giáo viên

    29

    2. Về tiến trình dạy học

    29

    3. Về sự khác biệt giữa Đọc hiểu, Thực hành đọc hiểu và Tự đánh giá

    29

    4. Về phân bổ thời lượng trong các bài

    30

    5. Về chuyên đề học tập (tự chọn)

    30

    6. Lưu ý về dạy Ngữ văn 10 cho HS năm học 2022 – 2023

    31

    II. DẠY ĐỌC HIỂU VĂN BẢN

    32

    1. Dạy đọc theo thể loại và kiểu văn bản

    32

    2. Dạy đọc hiểu văn bản văn học

    33

    3. Dạy đọc hiểu văn bản nghị luận

    39

    SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 10 – CÁNH DIỀU

    4. Dạy đọc hiểu văn bản thông tin

    41

    III. DẠY TIẾNG VIỆT

    42

    1. Kế thừa cách dạy học tiếng Việt

    42

    2. Cách dạy tiếng Việt trong sách Ngữ văn 10

    43

    IV. DẠY VIẾT

    44

    1. Bản chất của việc dạy viết

    44

    2. Cách dạy viết

    45

    V. DẠY NÓI VÀ NGHE

    45

    1. Quy định của Chương trình Ngữ văn 2018

    45

    2. Cách dạy nói và nghe

    46

    VI. DẠY ĐỌC VÀ VIẾT CHO HỌC SINH VÙNG KHÓ

    47

    1. Dạy đọc

    47

    2. Dạy viết

    48

    VII. KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ

    49

    1. Yêu cầu của Chương trình Ngữ văn 2018 về đánh giá

    49

    2. Đánh giá trong sách Ngữ văn 10

    50

    3. Gợi ý về việc kiểm tra, đánh giá với Ngữ văn 10

    51

    4. Giới thiệu một số đề kiểm tra giữa học kì

    52

    TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN

    Phần thứ nhất. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

    Chương trình (CT) Ngữ văn 2018 ra đời với mục tiêu nhằm khắc phục các hạn chế của
    việc dạy học Ngữ văn trong nhà trường và đáp ứng yêu cầu mới. Cụ thể: tập trung hình thành,
    phát triển năng lực đọc, viết cho học sinh (HS) theo hướng mới với những kì vọng mới.
    Mục tiêu ấy đòi hỏi cần chuyển từ dạy học theo nội dung sang dạy học theo hướng
    phát triển phẩm chất và năng lực. Dạy học phát triển năng lực không hướng đến việc cung
    cấp thật nhiều kiến thức ngôn ngữ và văn học mà quan tâm đến việc vận dụng những kiến
    thức ấy, quan tâm đến năng lực thực hiện của người học.
    Theo đó, cái đích cuối cùng của việc học Ngữ văn là HS biết sử dụng tiếng Việt một
    cách hiệu quả, từ việc sử dụng ngôn ngữ tự nhiên qua giao tiếp hằng ngày đến đọc, viết,
    nói và nghe các văn bản, từ văn bản thông thường đến văn bản văn học. HS cần có năng
    lực tiếp nhận, giải mã cái hay, cái đẹp của văn bản văn học, thể hiện chủ yếu ở việc biết
    đọc hiểu ngôn từ nghệ thuật của các văn bản văn học; nhận biết, lí giải, nhận xét và đánh
    giá được những đặc sắc về hình thức văn bản văn học; từ đó, biết tiếp nhận đúng và sáng
    tạo các thông điệp nội dung (nghĩa, ý nghĩa, chủ đề, tư tưởng, cảm hứng). HS có năng lực
    văn học còn thể hiện ở khả năng tạo lập, biết cách biểu đạt (viết và nói) kết quả cảm nhận,
    hiểu và lí giải giá trị thẩm mĩ của văn bản văn học; bước đầu có thể tạo ra được các sản
    phẩm văn học.
    Muốn đạt được mục tiêu nói trên, trước hết trong dạy đọc hiểu văn bản, giáo viên (GV)
    cần phải chuyển từ cách dạy giảng văn sang dạy đọc hiểu; chuyển từ việc nói cho HS nghe
    những gì thầy cô hiểu, yêu thích về tác phẩm sang hướng dẫn để các em biết tìm ra cái hay,
    cái đẹp của tác phẩm theo cách nhìn và suy nghĩ cảm nhận của chính HS; chuyển từ việc
    GV thuyết trình là chính sang tổ chức cho HS thực hành thông qua các hoạt động, bằng
    các hoạt động.
    Để hiểu tác phẩm, trước hết, HS phải tiếp xúc, làm việc với văn bản, chú ý quan sát
    các yếu tố hình thức của văn bản, từ đó, có ấn tượng chung và tóm tắt được nội dung chính
    của văn bản. HS được chủ động tìm kiếm, phát hiện, phân tích, bước đầu suy luận ý nghĩa
    các thông tin, thông điệp, quan điểm, thái độ, tư tưởng, tình cảm, cảm xúc,... được gửi gắm
    trong văn bản. Các em cần liên hệ, so sánh giữa các văn bản, bước đầu kết nối văn bản với
    bối cảnh lịch sử, văn hoá, xã hội; kết nối văn bản với trải nghiệm cá nhân HS,... để hiểu
    sâu hơn giá trị của văn bản. Từ đó, biết vận dụng, chuyển hoá những giá trị ấy thành niềm
    tin và hành vi ứng xử của cá nhân trong cuộc sống hằng ngày.

    SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 10 – CÁNH DIỀU

    Dạy học Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực đòi hỏi GV cần biết tổ chức các hoạt
    động học tập, thông qua các hoạt động nhằm giúp các em tự khám phá và kiến tạo tri thức
    cho mình. GV không thể nói suốt trong giờ dạy, nói say mê những điều mình biết về tác
    phẩm ấy, mà cần hướng dẫn để HS biết cách tiếp cận, nắm được cách tìm hiểu một văn bản
    theo đặc trưng thể loại. HS cần được rèn luyện về cách đọc, từ đọc có hướng dẫn đến đọc
    độc lập, tự đọc được các văn bản – tác phẩm tương tự.
    Với văn bản văn học, GV phải tập trung kích hoạt việc đọc tích cực, sáng tạo ở chủ thể
    đọc. Hướng dẫn và khích lệ HS chủ động, tự tin, phát huy vai trò “đồng sáng tạo” trong
    tiếp nhận tác phẩm; bước đầu biết so sánh đối chiếu, liên hệ mở rộng, huy động vốn hiểu
    biết cá nhân, sử dụng trải nghiệm cuộc sống của bản thân để đọc hiểu, trải nghiệm văn học,
    phát hiện những giá trị đạo đức, văn hoá và triết lí nhân sinh; từ đó, biết vận dụng, chuyển
    hoá thành giá trị sống. GV cần có những gợi ý, nhưng không lấy việc phân tích, bình giảng
    của mình thay thế cho những suy nghĩ của HS; tránh đọc chép và hạn chế ghi nhớ máy
    móc. Cần sử dụng đa dạng các loại câu hỏi ở những mức độ khác nhau để thực hiện dạy
    học phân hoá và hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản, hình thành kĩ năng đọc.
    Tổ chức cho HS làm thông qua các hoạt động không có nghĩa là GV phó thác và mất
    hết vai trò làm thầy trong giờ học, mà trái lại, dạy học phát triển năng lực đòi hỏi GV phải
    nỗ lực rất nhiều. GV cần cố gắng trong việc thiết kế giáo án, trong việc hướng dẫn tổ chức
    cho HS làm việc, nhắc nhở, uốn nắn những lệch lạc của HS trong tiếp nhận và tạo lập văn
    bản, tham gia cùng HS phát biểu những suy nghĩ và cảm nhận của mình về giá trị của tác
    phẩm,...
    Với CT và sách giáo khoa (SGK) Ngữ văn mới, dạy văn thực chất là dạy cho học sinh
    phương pháp đọc hiểu. Đọc hiểu ở đây được hiểu một cách khá toàn diện. Đó là một quá
    trình bao gồm việc tiếp xúc với văn bản, thông hiểu cả nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa hàm
    ẩn cũng như thấy được vai trò, tác dụng của các hình thức, biện pháp nghệ thuật ngôn từ,
    các thông điệp tư tưởng, tình cảm, thái độ của người viết và cả các giá trị tự thân của hình
    tượng nghệ thuật. Đọc hiểu là hoạt động quan trọng nhất để HS tiếp xúc trực tiếp với các
    giá trị văn học. Đọc hiểu bắt đầu từ đọc chữ, đọc câu, hiểu nghĩa của từ và sắc thái biểu
    cảm, hiểu nghĩa của hình thức câu, hiểu mạch văn, bố cục và nắm được ý chính cũng như
    chủ đề của tác phẩm. Lí giải là hiểu đặc sắc về nghệ thuật và ý nghĩa xã hội nhân văn của
    tác phẩm trong ngữ cảnh của nó. Trong quá trình học đọc, HS sẽ biết cách đọc để tích luỹ
    kiến thức, đọc để lí giải, đọc để đánh giá và đọc sáng tạo, phát hiện. HS sẽ học cách trích
    câu hay trích chi tiết, trích ý, học cách thuyết minh, thuật lại nội dung văn bản đã học. Hệ
    thống văn bản được lựa chọn nhằm thực hiện việc đào tạo năng lực đọc hiểu, qua đó, vừa
    cung cấp tri thức văn học, văn hoá dân tộc; vừa giáo dục tư tưởng, tình cảm; vừa rèn luyện
    kĩ năng đọc mà HS có thể mang theo suốt đời sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông
    (THPT) để có thể đọc hiểu nhiều loại văn bản thông dụng trong đời sống.
    Đọc văn theo tinh thần đó thực chất là toàn bộ quá trình tiếp nhận, giải mã văn bản.
    Muốn thế, HS phải được trang bị trên hai phương diện: những kiến thức để đọc văn và
    phương pháp đọc văn. Những kiến thức và phương pháp này chỉ có thể có được qua việc
    thực hành trong quá trình đọc văn thông qua các văn bản – tác phẩm cụ thể, tiêu biểu cho
    các thể loại ở những giai đoạn khác nhau. Do vậy, nhiệm vụ quan trọng của sách Ngữ văn

    TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN

    là tập trung hình thành cho HS cách đọc văn, phương pháp đọc hiểu theo thể loại và kiểu
    văn bản. Tất nhiên, thông qua hệ thống văn bản – tác phẩm tiêu biểu (như là những văn
    liệu, ngữ liệu), CT cung cấp và hình thành cho HS những kiến thức tiêu biểu về lịch sử
    văn học, lí luận văn học, tác giả và tác phẩm văn học. Dạy đọc còn phải trang bị cho HS
    các kiến thức tiếng Việt với tất cả các đơn vị và cấp độ ngôn ngữ như: ngữ âm, từ vựng,
    ngữ pháp, đoạn văn, văn bản. Chính những đơn vị ngôn ngữ này tạo nên thế giới hình
    tượng của tác phẩm văn học. Do đó, việc phân tích, cảm nhận tác phẩm văn học không thể
    không dựa vào chúng. Nói cách khác, những kiến thức về lịch sử văn học, lí luận văn học,
    ngôn ngữ học và các kiến thức về văn hoá tổng hợp đều trở thành kiến thức công cụ, là
    những chìa khoá giúp cho HS đọc hiểu tác phẩm văn học có kết quả hơn.
    Dạy viết có hai yêu cầu: dạy kĩ thuật viết và dạy viết đoạn văn, văn bản. Ngoài dạy kĩ
    thuật viết đúng chính tả, ngữ pháp, mục đích quan trọng nhất của dạy viết theo yêu cầu
    phát triển năng lực là rèn luyện tư duy và cách viết, qua đó, giáo dục phẩm chất và phát
    triển nhân cách HS. Vì thế khi dạy viết, GV cần chú trọng yêu cầu tạo ra ý tưởng, triển
    khai ý tưởng và biết cách trình bày ý tưởng, đảm bảo yêu cầu mạch lạc, sáng tạo và có sức
    thuyết phục.
    Nói và nghe là hai trong bốn kĩ năng giao tiếp cần rèn luyện cho HS. CT Ngữ văn 2018
    số tiết dành cho kĩ năng nói và nghe rất ít, chỉ 10% tổng số thời lượng. Tuy nhiên, cần lưu
    ý việc rèn luyện kĩ năng nói và nghe được thực hiện ở rất nhiều hình thức khác nhau: trong
    kiểm tra bài cũ, phát biểu ý kiến xây dựng bài, trao đổi thảo luận, trong sinh hoạt lớp,... Có
    thể coi số tiết 10% mà CT quy định được hiểu là dạy nói nghe có nội dung theo đề tài, chủ
    đề bắt buộc. Cụ thể: đọc hiểu và viết nội dung gì thì nói – nghe sẽ tổ chức để HS rèn luyện
    theo nội dung ấy.
    Dạy nói nghe không chỉ là kĩ năng nói và nghe mà còn cơ hội để rèn giũa phẩm chất,
    thái độ, tình cảm, lối sống có văn hoá cho HS. Vì thế, khi dạy nói và nghe, GV không chỉ
    chú ý nội dung, mà quan trọng hơn là cần tập trung vào kĩ năng và thái độ khi nghe – nói.
    GV cần tập trung vào yêu cầu hướng dẫn HS các bước tạo lập văn bản, thực hành viết
    theo quy trình và đặc điểm của kiểu văn bản. Thông qua thực hành, GV hướng dẫn HS nắm
    được quy trình tạo lập văn bản; xác định được mục đích và nội dung viết; giới thiệu các
    nguồn tư liệu; hướng dẫn cách tìm ý tưởng và phác thảo dàn ý; yêu cầu viết văn bản. GV
    cũng cần hướng dẫn HS tự chỉnh sửa và trao đổi dựa trên tiêu chí đánh giá bài viết; hướng
    dẫn HS liên hệ với các văn bản ở phần đọc hiểu và văn bản bổ sung để nắm được đặc điểm
    của các kiểu văn bản.
    Cuối cùng, không thể không chú ý tới việc đánh giá kết quả. Cách thức kiểm tra – đánh
    giá tác động rất lớn vào cách dạy, cách học. Vì thế, cần có nhận thức đúng để thay đổi cách
    ra đề kiểm tra, đề thi Ngữ văn trong nhà trường.
    Định hướng chung của việc thay đổi đánh giá là chuyển từ yêu cầu đánh giá ghi nhớ
    nội dung sang yêu cầu đánh giá năng lực đọc hiểu và năng lực viết, tức là đánh giá được
    khả năng vận dụng tiếng Việt vào đọc và viết văn bản. Đề kiểm tra phải bám sát mục tiêu,
    tính chất và yêu cầu của mỗi kì thi. Đề văn hay phải là đề văn đúng, phù hợp với trình độ
    của HS, gợi được cảm xúc và hứng thú của người viết; đừng yêu cầu HS bàn những vấn
    đề lí luận quá cao siêu, xa vời. Phải khơi dậy được khả năng tư duy độc lập, phát huy cá

    SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 10 – CÁNH DIỀU

    tính sáng tạo của từng HS; vì thế, đề thi và đáp án không nên áp đặt những khuôn mẫu nhất
    định. Cần khuyến khích những bài viết có sáng tạo; chống hiện tượng chép văn mẫu và học
    thuộc tài liệu có sẵn, không dám bứt phá, vượt thoát sang một hướng nào khác.
    CT Ngữ văn 2006 nêu yêu cầu rất cụ thể, mỗi lớp học tác phẩm gì, thể loại nào và bắt
    buộc SGK cũng như GV phải dạy đúng như CT quy định. CT Ngữ văn 2018 không còn
    như thế nữa. Với lớp 10 (CT 2018) chỉ quy định những nội dung nêu cụ thể dưới đây.
    2.1. Yêu cầu cần đạt
    HS phải rèn luyện bốn kĩ năng: đọc hiểu, viết, nói và nghe.
    2.1.1. Đọc hiểu
    CT yêu cầu đọc ba loại: văn bản văn học, văn bản nghị luận và văn bản thông tin.
     Văn bản văn học: Đọc các thể loại sử thi, thần thoại; truyện (tiểu thuyết, truyện ngắn);
    thơ; kịch bản chèo hoặc tuồng với một số yêu cầu, ví dụ: a) Biết nhận xét nội dung bao
    quát của văn bản; b) Phân tích, đánh giá được chủ đề, thông điệp mà văn bản muốn gửi
    đến người đọc; c) Phân tích và đánh giá được tình cảm, cảm hứng chủ đạo mà người viết
    thể hiện qua văn bản,...; d) Nhận biết và phân tích được một số yếu tố như: không gian,
    thời gian, cốt truyện, nhân vật, lời người kể chuyện và lời nhân vật, người kể chuyện ngôi
    thứ ba và người kể chuyện ngôi thứ nhất, điểm nhìn,...; e) Phân tích và đánh giá được giá
    trị thẩm mĩ của một số yếu tố trong thơ như từ ngữ, hình ảnh, vần, nhịp, đối, chủ thể trữ
    tình, nhân vật trữ tình; một số yếu tố như: đề tài, tính vô danh, tích truyện, nhân vật, lời
    thoại, phương thức lưu truyền của văn bản chèo hoặc tuồng,...
     Văn bản nghị luận: Đọc hiểu văn bản nghị luận xã hội (NLXH) và nghị luận văn học
    (NLVH) với một số yêu cầu như: a) Nhận biết và phân tích được cách sắp xếp, trình bày
    luận điểm, lí lẽ và bằng chứng của tác giả; b) Nhận biết và phân tích được vai trò của các
    yếu tố biểu cảm; c) Nhận biết và phân tích được nội dung của luận đề, luận điểm, lí lẽ và
    bằng chứng tiêu biểu; d) Xác định được ý nghĩa của văn bản;...
    Văn bản thông tin: Đọc hiểu một số văn bản thông tin tổng hợp và bản tin với các
    yêu cầu, ví dụ: a) Nhận biết được một số dạng văn bản thuyết minh tổng hợp; b) Phân tích,
    đánh giá được cách đưa tin và quan điểm của người viết ở một bản tin; c) Phân tích và đánh
    giá được đề tài, thông tin cơ bản của văn bản, cách đặt nhan đề của tác giả và nhận biết
    được mục đích của người viết; d) Nhận biết và phân tích được sự kết hợp giữa phương tiện
    giao tiếp ngôn ngữ và các phương tiện phi ngôn ngữ,...
    2.1.2. Viết
    HS được rèn luyện theo quy trình viết và thực hành viết các kiểu văn bản với yêu cầu
    cụ thể như sau:
     Viết được một văn bản nghị luận về một vấn đề xã hội: trình bày rõ quan điểm và hệ
    thống các luận điểm; có cấu trúc chặt chẽ; sử dụng các bằng chứng thuyết phục: chính xác,
    tin cậy, thích hợp, đầy đủ.
    Viết được một văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm văn học: nêu chủ
    đề, những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật và tác dụng của chúng.

    TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN

    Viết được một bài luận thuyết phục người khác từ bỏ một thói quen hay một quan
    niệm. Viết được một bài luận về bản thân.
    Viết được bản nội quy, hướng dẫn nơi công cộng. Viết được báo cáo kết quả nghiên
    cứu về một vấn đề, có sử dụng trích dẫn, cước chú,...
    2.1.3. Nói và nghe
    CT yêu cầu như sau:
    Biết thuyết trình về một vấn đề xã hội có sử dụng kết hợp phương tiện ngôn ngữ với
    các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ.
     Trình bày được báo cáo kết quả nghiên cứu về một vấn đề.
     Biết giới thiệu, đánh giá về nội dung và nghệ thuật của một tác phẩm văn học.
     Nghe và nắm bắt được nội dung truyết trình, quan điểm của người nói. Biết nhận xét
    về nội dung và hình thức thuyết trình.
     Biết thảo luận về một vấn đề có những ý kiến khác nhau; đưa ra được những căn cứ
    thuyết phục để bảo vệ hay bác bỏ một ý kiến nào đó; tôn trọng người đối thoại.
    2.2. Kiến thức
    Để đạt được mục tiêu và các yêu cầu trên, cần thông qua các hệ thống kiến thức tiếng
    Việt, văn học và văn bản sau đây.
    2.2.1. Kiến thức tiếng Việt
    Chủ yếu là chữa các lỗi và học thêm một số biện pháp tu từ như chêm xen, liệt kê. Cách
    đánh dấu phần bị tỉnh lược trong văn bản, cách chú thích trích dẫn và ghi cước chú.
    2.2.2 Kiến thức văn học
    Chủ yếu là các khái niệm gắn với thể loại như: một số yếu tố của sử thi, truyện thần
    thoại: không gian, thời gian, cốt truyện, người kể chuyện, nhân vật, lời người kể chuyện và
    lời nhân vật,...; người kể chuyện ngôi thứ ba, người kể chuyện ngôi thứ nhất; giá trị thẩm
    mĩ của một số yếu tố hình thức trong thơ; một số yếu tố của kịch bản chèo hoặc tuồng dân
    gian: tính vô danh, đề tài, tích truyện, nhân vật, lời thoại, phương thức lưu truyền,...Vận
    dụng một số kiến thức văn học sử như bối cảnh lịch sử hoặc bối cảnh văn hoá, xã hội và
    tác phẩm; những hiểu biết cơ bản về Nguyễn Trãi giúp cho việc đọc hiểu một số tác phẩm
    tiêu biểu của ông; tác phẩm văn học và người đọc;...
    2.2.3. Hệ thống văn bản
     Văn bản văn học: thần thoại, sử thi; truyện ngắn, tiểu thuyết; thơ trữ tình; kịch bản
    chèo hoặc tuồng.
     Văn bản nghị luận: NLXH, NLVH.
     Văn bản thông tin: báo cáo nghiên cứu; văn bản thuyết minh tổng hợp, bản tin; nội
    quy, văn bản hướng dẫn.
    Lưu ý:
    a) Tất cả nội dung mục 2.1 là yêu cầu cần đạt (kết quả đầu ra) và mục 2.2 là hệ thống
    kiến thức (nguyên liệu đầu vào). Hệ thống kiến thức chỉ là phương tiện để đạt được mục
    tiêu. Việc biên soạn SGK, tổ chức dạy học và kiểm tra, đánh giá,... tất cả đều phải dựa vào
    các yêu cầu cần đạt nêu trên của CT. Kiến thức có thể thay đổi, bổ sung, thêm bớt, nhưng

    SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 10 – CÁNH DIỀU

    kết quả cần đạt thì là yêu cầu bắt buộc của CT. Dạy bộ sách nào cũng phải đạt được các
    yêu cầu đó. Kiểm tra, đánh giá không dựa vào một bộ sách cụ thể.
    b) Từ lớp 10 đến lớp 12, mỗi năm có thêm 35 tiết chuyên đề học tập. HS được tự chọn
    trong việc học chuyên đề. Chuyên đề học tập Ngữ văn 10 gồm ba chuyên đề sau:
     Tập nghiên cứu và viết báo cáo nghiên cứu một vấn đề văn học dân gian.
     Sân khấu hoá tác phẩm văn học.
     Đọc, viết và giới thiệu một tập thơ, tập truyện ngắn hoặc một tiểu thuyết.
    c) CT 2018 theo hướng mở nên mỗi bộ sách có thể theo một cấu trúc và lựa chọn các
    văn bản đọc khác nhau, miễn là đáp ứng được yêu cầu cần đạt mà CT đã quy định. Tuy
    nhiên, có một số tác phẩm, tác giả, CT quy định bắt buộc phải học.

    3.1. Cần phân biệt CT và SGK
    CT môn Ngữ văn cũng như tất cả các môn học, đều do một tiểu ban soạn thảo trên cơ
    sở thống nhất với CT tổng thể, được lấy ý kiến của các cơ sở giáo dục và xã hội, được Hội
    đồng quốc gia thẩm định CT xem xét, thông qua và được ban hành bằng một VB quy phạm
    pháp luật (thông tư của Bộ GDĐT). CT Tiếng Việt  Ngữ văn (2006) làm từ các thời điểm
    khác nhau (Tiểu học  1995, THCS 1998 và THPT 2000), đến năm 2006, được hợp
    nhất, bổ sung chuẩn CT theo quy định của Luật Giáo dục 2005, nên được gọi là CT 2006.
    CT 2018 làm trong 2 năm 2017 và 2018, được ban hành cuối 2018 nên gọi là CT 2018.
    CT Ngữ văn 2018 là CT mở, phục vụ cho chủ trương một CT, nhiều SGK, vì thế, chỉ
    nêu lên mục tiêu, các yêu cầu cần đạt và một số nội dung cốt lõi của mỗi lớp, mỗi cấp. Trên
    cơ sở quy định của CT, tác giả các bộ SGK tự quyết định lựa chọn ngữ liệu, sắp xếp nội
    dung, hướng dẫn tổ chức hoạt động rèn luyện các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe. Ví dụ, 3
    bộ SGK Ngữ văn lớp 10 mới sẽ có cách triển khai rất khác nhau, nhưng tất cả đều phải
    hướng đến mục tiêu và đáp ứng được các yêu cầu cần đạt mà CT đã nêu lên. Chẳng hạn,
    mục tiêu và yêu cầu cần đạt của đọc hiểu với lớp 10 là “Nhận biết và phân tích được một
    số yếu tố của sử thi, truyện thần thoại như: không gian, thời gian, cốt truyện, nhân vật, lời
    người kể chuyện và lời nhân vật,...”. Với yêu cầu này, cả 3 bộ SGK đều phải tuân thủ, trước
    hết về thể loại phải dạy cách đọc hiểu truyện thần thoại và sử thi và khi dạy phải chú ý giúp
    HS “nhận biết được các yếu tố như: không gian, thời gian, cốt truyện, nhân vật, lời người
    kể chuyện và lời nhân vật”. Tương tự với yêu cầu “Nhận biết và phân tích được một số yếu
    tố của truyện như: nhân vật, câu chuyện, người kể chuyện ngôi thứ ba (người kể chuyện
    toàn tri) và người kể chuyện ngôi thứ nhất (người kể chuyện hạn tri) điểm nhìn, lời người
    kể chuyện, lời nhân vật” thì cả 3 bộ SGK đều phải giới thiệu các yếu tố này.
    Các yêu cầu khác về đọc hiểu, viết, nói về nghe đều là các yêu cầu chung cần tuân thủ,
    nhưng biên soạn SGK và tổ chức dạy học như thế nào để đạt được mục tiêu yêu cầu ấy có
    thể rất khác nhau.

    TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN

    3.2. Từ CT đến SGK Ngữ văn
    Với hầu hết các nước, CT GPPT quốc gia chỉ có một. Từ CT quốc gia, các địa phương
    (bang, khu vực, nhà trường) căn cứ vào thực tiễn để thiết kế CT địa phương và CT nhà
    trường. CT địa phương và CT nhà trường thường tuân thủ CT quốc gia từ 80% đến 90%;
    nội dung còn lại do địa phương tự điều chỉnh. Hầu hết các nước thực hiện chính sách một
    CT, nhiều SGK. Và vì thế, CT trở thành cơ sở quan trọng nhất của việc dạy học, từ biên
    soạn SGK, lựa chọn phương pháp và kiểm tra  đánh giá. SGK chỉ là một trong những tài
    liệu dạy học quan trọng nhưng không bắt buộc. GV có thể dạy theo bất kì bộ sách nào và
    lấy tư liệu từ các nguồn khác nhau để hướng dẫn HS học hằng ngày, miễn là đáp ứng được
    yêu cầu của CT.
    Văn bản CT của mỗi nước trình bày có khác nhau, nhưng đã theo định hướng nhiều
    SGK thì CT phải có tính “mở”. Tức CT chỉ quy định “kết quả đầu ra” bằng các yêu cầu
    cần đạt đối với HS. Từ yêu cầu cần đạt này, CT nêu lên một số kiến thức cốt lõi cần dạy
    để đạt được các yêu cầu. Cái đích của dạy và học là yêu cầu cần đạt; còn dạy thông qua cái
    gì, bằng cách nào là quyền của người soạn SGK và GV. Điều này giống như học ngoại
    ngữ: HS học sách nào, giáo trình nào, học ở đâu, ai dạy,… không quan trọng, mà quan
    trọng là cuối cùng HS nói  nghe lưu loát và đọc thông, viết thạo một ngoại ngữ nào đó.
    Như thế, SGK chỉ là công cụ, phương tiện để giúp GV, HS dạy và học nhằm đạt được
    mục tiêu, yêu cầu của CT. Vì thế, khi kiểm tra – đánh giá, phải dựa vào yêu cầu cần đạt
    của CT, không dựa vào 1 SGK cụ thể nào. CT Ngữ văn 2018 đã nêu rõ yêu cầu cần đạt ở
    mỗi lớp về 4 kĩ năng giao tiếp: đọc, viết, nói và nghe với 03 loại văn bản: văn học, nghị
    luận và thông tin. Theo CT này, GV dạy sách nào cũng được, nhưng cuối năm lớp 10, HS
    cần biết đọc truyện thần thoại, sử thi; tiểu thuyết chương hồi, truyện ngắn; thơ Đường luật;
    thơ tự do; kịch bản chèo, tuồng; biết đọc văn bản NLVH và NLXH; biết đọc văn bản thông
    tin tổng hợp, thơ văn Nguyễn Trãi,… ; biết viết các kiểu VB: nghị luận, thuyết minh, nhật
    dụng. Tương tự như đọc và viết, HS phải biết nói và nghe đạt yêu cầu mà CT đã đề ra.
    SGK phải tuân thủ CT, cụ thể hoá các yêu cầu của CT thông qua các VB và các hoạt
    động đọc, viết, nói, nghe cụ thể. Để dạy cách đọc, SGK cần tổ chức cho HS học đọc theo
    thể loại và kiểu VB. Mỗi bài học cần tập trung cho một thể loại nào đó chứ không phải
    chạy theo chủ đề nội dung như đề tài, chủ đề trong tác phẩm văn học. Tuy nhiên, dạy học
    Ngữ văn còn có nhiệm vụ trang bị cho HS vốn văn học, văn hoá. Vì thế, ở mỗi thể loại,
    SGK cần lựa chọn được những tác phẩm tiêu biểu cho văn học dân tộc và nhân loại. Việc
    giáo dục phẩm chất, nhân cách được thông qua nội dung các tác phẩm cụ thể. Mỗi tác phẩm
    văn học đều hàm chứa trong nó nhiều giá trị, nhiều ý nghĩa khó có thể khuôn vào một chủ
    đề duy nhất. GV hướng dẫn cho HS đọc hiểu tốt các VB tác phẩm chính là vừa dạy cách
    đọc, vừa góp phần giáo dục phẩm chất, nhân cách.
    3.3. Lí luận văn học trong CT và SGK 2018
    Trong các CT Ngữ văn truyền thống, lí luận văn học (LLVH) được dạy với 2 yêu cầu:
    một là học một số thuật ngữ văn học thông qua các bài giảng văn, phân tích tác phẩm như
    đề tài, chủ đề, nhân vật, thể loại văn học,...; ví dụ, sơ lược về đặc điểm của các thể loại: thơ

    SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 10 – CÁNH DIỀU

    ngũ ngôn, thơ thất ngôn, thơ lục bát, thơ song thất lục bát; một số khái niệm cơ bản về hình
    ảnh, nhịp điệu, tiết tấu trong thơ (CT 2006- lớp 7),…; hai là học các bài lí luận văn học
    chuyên về một vấn đề nào đó ở cấp THPT; ví dụ: “Chủ nghĩa lãng mạn, Chủ nghĩa hiện
    thực, trào lưu và khuynh hướng văn học,... (CT 2006  lớp 11) hoặc “Quá trình văn học,
    Phong cách văn học, Giá trị văn học, Tiếp nhận văn học” (CT 2006  lớp 12),...
    CT Ngữ văn 2018 thay đổi cách dạy LLVH. Trước hết, cần trả lời câu hỏi: HS biết các
    kiến thức LLVH ấy để làm gì? Với hầu hết tất cả những người lao động bình thường, điều
    quan trọng nhất là hiểu được văn bản, tác phẩm chứ không phải để biết các tri thức LLVH.
    Vì thế, LLVH chỉ có ích khi giúp HS hiểu được văn bản, tác phẩm. Có nghĩa là LLVH
    phải trở thành phương tiện để giúp HS đọc hiểu văn bản một cách tốt hơn, hiệu quả hơn,
    chứ không học các bài LLVH lí thuyết nặng nề, khó hiểu nhưng không giúp được HS
    hiểu văn bản.
    Theo định hướng trên, LLVH trong CT Ngữ văn 2018 được thể hiện ngay trong các
    yêu cầu cần đạt về các thể loại văn bản và các thành tố tạo nên văn bản văn học. LLVH có
    mặt ngay từ các lớp ở tiểu học. Chẳng hạn với lớp 3 và 4, khi yêu cầu HS “Nhận biết được
    đặc điểm của nhân vật thể hiện qua hình dáng, điệu bộ, hành động, lời thoại.” tức là đã có
    LLVH ít nhất ở 2 khái niệm “nhân vật” và “lời thoại”. Đây là yêu cầu của CT, còn việc thể
    hiện vào SGK như thế nào, bằng cách nào cho đơn giản, dễ hiểu, phù hợp với HS độ tuổi
    này là tuỳ thuộc vào mỗi bộ SGK. Với sách Ngữ văn 10 (CD), LLVH thể hiện ở các bài
    đọc hiểu trước hết là hệ thống thể loại và kiểu văn bản nêu trong nhan đề 8 bài học. Tiếp
    đó là các thành tố của văn bản văn học được cài đặt trong các bài đọc hiểu gắn với mỗi thể
    loại như: không gian, thời gian, cốt truyện, nhân vật, lời người kể chuyện và lời nhân vật,...
    của truyện thân thoại và sử thi,... Hoặc “người kể chuyện ngôi thứ 3 (người kể chuyện toàn
    tri) và người kể chuyện ngôi thứ nhất (người kể chuyện hạn tri) điểm nhìn, lời người kể
    chuyện, lời nhân vật,...” được gắn với bài: tiểu thuyết và truyện ngắn,... Đọc các yêu cầu
    cần đạt trong CT NV 2018 sẽ thấy các kiến thức LLVH thể hiện rõ ở cả 3 phương diện: i)
    Nội dung với các khái niệm như: đề tài, chủ đề, tư tưởng, cảm hứng,…; ii) Hình thức với
    các khái niệm như: thể loại, cốt truyện, nhân vật, lời nhân vật, lời người kể, điểm nhìn và
    ngôi kể,...; iii) Tiếp nhận văn học: với các yêu cầu HS biết liên hệ, so sánh, kết nối với bối
    cảnh lịch sử, văn hoá, đặc biệt liên hệ với kinh nghiệm sống của bản thân để hiểu văn bản
    một cách sáng tạo, mang dấu ấn cá nhân. Một số vấn đề LLVH mang tính chuyên sâu chỉ
    được giới thiệu trong các chuyên đề tự chọn ở cấp THPT.
    Để dạy đọc hiểu VB văn học, GV cần tổ chức cho HS hiểu nội dung trong mối quan
    hệ với các yếu tố hình thức là một yêu cầu căn bản đặt ra từ lâu. Với CT 2018, yêu cầu ấy
    được thể hiện trực tiếp vào các yêu cầu cần đạt của mỗi bài học, buộc GV phải tổ chức,
    hướng dẫn HS khai thác để hiểu văn bản. Đó không còn chỉ là một khuyến nghị nằm ngoài,
    muốn làm hay không làm cũng được. Dạy LLVH không còn là “dạy chay” mà luôn phải
    gắn chặt với mỗi VB, tác phẩm cụ thể.
    3.4. Lịch sử văn học trong CT và SGK 2018
    Trong các CT Ngữ văn truyền thống, lịch sử văn học (LSVH) được dạy với 2 yêu cầu:
    một là học trực tiếp các bài khái quát văn học sử; hai là giảng văn các tác phẩm theo các
    giai đoạn lịch sử từ dân gian đến trung đại và hiện đại. Từ cuối cấp THCS, HS học bài sơ

    TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN

    lược về văn học VN qua các thời kì lịch sử. Lên THPT, LSVH được học thông qua các bài
    khái quát như “Tổng quan nền văn học VN qua các thời kì lịch sử” hoặc “Khái quát văn
    học từ đầu thế kỉ XX đến 1945” và các bài khái quát về Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn
    Đình Chiểu, Hồ Chí Minh,... Ngoài ra, mỗi bài học đều có phần Tiểu dẫn nêu thông tin về
    tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh ra đời,… thực chất đó cũng là LSVH.
    Có thể thấy với CT Ngữ văn truyền thống, LSVH là đối tượng cần dạy, cần học; là yêu
    cầu cần đạt. Với CT Ngữ văn 2018, LSVH trở thành phương tiện để giúp HS đọc hiểu văn
    bản. Cụ thể, HS sẽ không phải học các bài LSVH lí thuyết nặng nề, nhiều khái niệm thuật
    ngữ khó hiểu. Và quan trọng hơn cần trả lời câu hỏi: HS biết các kiến thức LSVH ấy để
    làm gì? Câu trả lời của CT Ngữ văn 2018 là phải giúp HS đọc hiểu được văn bản một cách
    tốt hơn, hiệu quả hơn. Vì thế những kiến thức LSVH phải gắn với từng văn bản tác phẩm,
    làm sáng tỏ và giúp cho việc hiểu văn bản ấy.
    CT Ngữ văn 2018, không yêu cầu dạy và học những bài khái quát như trước. Đến cuối
    lớp 9 mới có yêu cầu HS: “Vận dụng được một số hiểu biết về LSVH Việt Nam để đọc
    hiểu văn bản văn học” hoặc cuối lớp 12 mới yêu cầu: “Vận dụng được kiến thức về LSVH
    và kĩ năng tra cứu để sắp xếp một số tác phẩm, tác giả lớn theo tiến trình LSVH; biết đặt
    tác phẩm trong bối cảnh sáng tác và bối cảnh hiện tại để có đánh giá phù hợp”. Nghĩa là ở
    các lớp cuối cấp, HS mới cần có những hiểu biết về LSVH nhưng vẫn không ngoài mục
    đích giúp cho việc đọc hiểu văn bản. Với 3 tác gia Nguyễn Trãi, Nguyễn Du và Hồ Chí
    Minh ở THPT mới có yêu cầu “Vận dụng được những hiểu biết về tác giả để đọc hiểu một
    số tác phẩm của tác giả này”. Các văn bản đọc hiểu ở tất cả các lớp không sắp xếp theo
    LSVH mà theo thể loại văn học VD: dạy đọc hiểu truyện dân gian bên cạnh truyện hiện
    đại, truyện trung đại; truyện Việt Nam bên cạnh truyện nước ngoài,... Các thể loại khác
    cũng tương tự.
    Tuy tổ chức bài học theo thể loại nhưng SGK Ngữ văn 10 (CD) vẫn chú trọng lịch sử
    văn học. Các kiến thức văn học sử được thể hiện ở yêu cầu về bối cảnh ra đời của tác phẩm;
    chẳng hạn với các tác phẩm thần thoại và sử thi hoặc tiểu thuyết chương hồi (Hoàng Lê
    nhất thống chí và Tam quốc diễn nghĩa), thơ Đường luật, thơ văn Nguyễn Trãi,... Việc vận
    dụng các kiến thức LSVH như là công cụ và phương tiện giúp cho đọc hiểu được gắn với
    yêu cầu: “liên hệ, so sánh, kết nối” (yêu cầu số 3 của CT Ngữ văn 2018). Yêu cầu này có
    trong mục đọc hiểu của tất cả các lớp. Theo đó, để dạy đọc hiểu 1 văn bản, GV cần tổ chức
    cho HS biết liên hệ với bối cảnh lịch sử văn hoá thời đại và hoàn cảnh ra đời của mỗi tác
    phẩm; so sánh các bối cảnh, các điều kiện lịch sử khác nhau của các văn bản để hiểu sâu
    hơn, nhận xét và đánh giá đúng hơn giá trị của mỗi văn bản.
    3.5. Tính kế thừa và phát triển trong CT Ngữ văn 2018
    Đổi mới không có nghĩa là xoá đi tất cả, làm lại từ đầu; cũng không thể giữ nguyên
    như cũ. Vì thế, cần làm rõ CT Ngữ văn 2018 kế thừa những gì của CT Ngữ văn 2006 và
    đổi mới ở những điểm nào. Chúng tôi xin nêu mấy điểm khái quát sau đây:
    a) CT môn Ngữ văn 2018 tiếp tục mục tiêu giáo dục tư tưởng, bồi dưỡng tình cảm, phát
    triển nhân cách cho HS, coi đây là thế mạnh của môn Ngữ văn trong giáo dục phẩm chất.

    SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 10 – CÁNH DIỀU

    Điểm mới là: không nghiêng về tập trung ...
     
    Gửi ý kiến

    SÁCH THAM KHẢO  (79 bài)