Chào mừng quý vị đến với thư viện số trực tuyến
Hướng dẫn đọc sách trực tuyến. Chọn sách mà bạn muốn đọc, chọn mũi tên để di chuyển trang. Đăng ký thành viên để tải tài liệu
Chuyện dễ quyên

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: lê thị lành (trang riêng)
Ngày gửi: 10h:30' 19-03-2025
Dung lượng: 1.8 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: lê thị lành (trang riêng)
Ngày gửi: 10h:30' 19-03-2025
Dung lượng: 1.8 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
Table of Contents
... Sừng sững một tòa ngôn ngữ chân chất, tinh diệu…
Những ngày đầu
Khiêng máy
Thảo
Tội làng
Khác trước
Người mất trí
Chuyện đầm sen đền Đồng Cổ
Bác Niệm
Hai đứa trẻ đợi đi
Một đêm gác rừng
Hết một buổi chiều
Chuyện cũ
Hoa bìm biển
Chuyện để quên
Tình buồn
Cối, cối ơ!
Nước mắt
https://thuviensach.vn
... Sừng sững một tòa ngôn ngữ
chân chất, tinh diệu…
(Thay lời giới thiệu)
Trong tập tùy bút
Thăm thẳm bóng người
của Đỗ Chu, Nguyễn
Tuân, Tô Hoài được tác giả giới thiệu bằng cảm hứng và lời văn trác
tuyệt. Trong thăm thẳm bóng
người
có bóng
ta.
Có thăm thẳm bóng
Nguyễn Tuân trong những kiệt tác ông để lại cho đời. Tô Hoài còn
đấy, “
đứng chống đòn gánh, dưới chân là hai quang sách nặng
”,
bóng của hàng triệu độc giả hòa vào bóng Tô Hoài trong những tác
phẩm bất hủ của ông. Trước “cốt kiêu” và uy bút lực của hai ông, Đỗ
Chu - lần đầu tiên tôi thấy - ... đứng khép nép.
Tôi đã có lần khép nép trước một tác phẩm của Tô Hoài, đó là
Chuyện đầm sen Đền Đồng Cổ
in trong tập truyện ngắn này. Sau
Giăng thề,
đây là kiệt tác thứ hai của Tô Hoài. (
Dế mèn phiêu lưu
ký
đương nhiên là một tác phẩm bất hủ, nhưng ý tôi nên xếp sang
một chiếu khác). Trong
Chuyện đầm sen Đền Đồng Cổ,
hơi thở
hùng tráng của lịch sử vừa kín đáo, vừa mãnh liệt chạm vào tình cảm
sâu lắng nhất của bất kỳ độc giả người Việt nào. Ta gặp lại đam mê
của Tô Hoài quan sát những lễ tục dân gian và sự am hiểu tinh tường
những tập quán ngành nghề, sinh hoạt mà tác giả miêu tả.
Cảnh đám rước kiệu “bà” quay tròn:
“
Kiệu bát cống quay tròn, bây giờ mới thật như chiếc hoa giữa
đám hội, vừa bay vừa cong cánh nở. Lòng hân hoan mong đợi của cả
https://thuviensach.vn
ngàn người xem hội cứ thế bồng bột mãi lên. Hai mươi bốn trai
kiệu, nghe tiếng trống khẩu, một lượt quỳ như hai mươi bốn thớt
voi rồi từ từ bò qua gò, vai kiệu vẫn phẳng lừ như tường đứng.
” (tr.
146)
Mùa vụ cây dó (làm bột giấy):
“
Cạn kỳ dó chính tuyết, vừa cuối thu. Lần sang vụ dó Một
Chạp đến tháng Giêng là “đầu giao”. Một Chạp hay “đầu giao”,
áo dó mới lột, quệt sương hay mưa đều ố nước, mất công phơi
nhiều nắng mới bó được. Nhưng vừa xong cái vất vả rừng này lại
phải lặn lội sang rừng khác, đã vào vụ dó chiêm. Dó chiêm tiếp dó
đuôi tháng, quanh lại vừa trở lại chính tuyết.
” (tr. 163)
Đúng là Tô Hoài. Chỉ có thể là Tô Hoài.
Nhưng cái mà tôi kính nể là đọc tác phẩm này tôi như đứng trước
sừng sững một
tòa ngôn ngữ
chân chất và tinh diệu. “Trong ngọc”
nhất trong tòa ngôn ngữ này là những câu văn thuộc loại “văn xuôi
thơ” sáng giá của văn chương Việt Nam hiện đại. Đây là những câu
văn tả tình cảnh một người con gái ngồi trên thuyền ngược sông đi
lấy chồng giầu mạn ngược:
“Những lời hò vui mà thảm thiết:
Ra khoang… em bước… qua cầu…
Bến vui em đến…
Trên mui bỗng lóng lánh một trời sao. Con thuyền đêm nao
cũng đi qua một trời sao ấy. Dù cho con người có cạn nước mắt
rồi cũng muốn hy vọng, như người chèo thuyền mong đến
bến…
https://thuviensach.vn
Một đêm, Hạ ra khoang sau. Hạ ngồi một lúc thật lâu. Bốn bề
lặng ngắt. Những ngôi sao long lanh nhỏ lã chã những giọt nước
mắt xuống thế gian…”
(tr. 162)
Một lần Hội nghị nhà văn trẻ, nghe giới thiệu nhà văn Tô Hoài
lên phát biểu ý kiến, cả hội trường im phăng phắc. Trái với sự chờ
đợi của mọi người, nhà văn lão thành lên diễn đàn chỉ để nói với các
nhà văn trẻ một câu: “…
chừng nào chưa phân biệt được “
mồm
” và
“
miệng
” thì đừng có cầm bút…
”. Tôi thiết nghĩ các bạn trẻ háo
hức viết văn nên tìm đọc
Chuyện đầm sen Đền Đồng Cổ
, đọc
xong mà nhận ra được vốn ngôn từ của mình sao mà nó nghèo nàn,
thảm hại, xô bồ đến thế thì dù có tiến hay thoái cũng là một sự
thức nhận hết sức có ích.
Thăm thẳm bóng người
trong tập truyện ngắn này:
Bóng cô Cúc, “một sinh viên người Huế đẹp tuyệt trần” được
nhà văn Tô Hoài trao cho bản thảo cuốn tiểu thuyết
Đêm mưa “
một chiều đông rét mướt” năm 1946 và tòa nhà lưu niệm “tiêu điều,
ảm đạm” của bà Điềm (cô Cúc năm xưa, nay đã trở thành nhà điêu
khắc nổi tiếng Điềm Phùng Thị),...
“trong những tủ kính trang
nhã, phủ bụi mấy bức khắc tự họa của nhà điêu khắc”.
(Hồi ký
Tiểu thuyết đêm mưa)
Một người đàn bà “cả đời chỉ đi bói chèo ước mong tái hợp” vì
chồng đi “đất đỏ Sài Goòng” mãi không trở về. (
Cô đào Thương)
Bà Tứ dở điên dở dại lúc hấp hối phải gặp được người tình năm
xưa mới yên tâm nhắm mắt. (
Tình buồn)
Có một loạt truyện giúp độc giả hình dung được đầy đủ hơn trí
tưởng tượng kỳ thú và hóm hỉnh của tác giả
Dế mèn phiêu lưu ký
:
https://thuviensach.vn
Đôi ri đá, Con gà trống ri, Truyện gã chuột bạch, Một cuộc bể dâu,
Mụ ngan…
Trong những truyện về các dân tộc miền núi mà tiêu biểu là
truyện
Vợ chồng A Phủ,
còn gì giản dị và sâu sắc hơn tinh thần
cứu đất cứu mường nảy sinh trong tâm khảm và gắn với cuộc đời
của các nhân vật.
“
… Nhấn nhớ lại cả cái đời thảm của mẹ và của mình. Nhấn
muốn khóc.
Giữa khi ấy thì tiếng chim kỳ lanh lảnh như tiếng kèn giục
phường săn. Nhấn không khóc được. Nhưng từ đấy, trong đời
chiến đấu của người bộ đội, mỗi khi nghe trên cánh rừng, đầu
rừng nào có tiếng chim kỳ kêu, Nhấn tưởng hồn mẹ và hồn em
đi đâu cũng đuổi theo Nhấn
.” (
Cứu đất cứu mường)
Tập
Chuyện để quên
có những truyện rất “quý”, làm sống lại
không khí hồ hởi hồn nhiên của những năm đầu kháng chiến,
những đoàn dân công, bộ đội, cán bộ đi công tác…
Truyện - ký
Khiêng máy
là một tác phẩm xuất sắc. Tiêu biểu là
cảnh đám công nhân nhà in báo “
Cứu quốc Việt Bắc”
khiêng máy
nghỉ lại ở lán.
“…Cứ tối đến, các lán sàn trên, sàn dưới, hai tầng ghép lại
bằng ống vầu tươi, người nằm người ngồi ngổn ngang. Một
ngày cật lực khiêng máy, vác giấy, tải gạo, tải muối… Tưởng như
mỗi khi ngả lưng xuống thì thiếp đi đến chết. Tiếng moóc-chi-ê
ình oàng vào sương đêm, không biết từ phía nào. Nhưng chẳng ai
có thể chợp mắt. Từ chập tối đến khuya, người nằm cứ rào rào
kháo đủ các thứ chuyện. Chẳng chuyện nào vào chuyện nào, nhưng
https://thuviensach.vn
thú vị, hả hê. Họ đố nhau ăn uống cái gì ngon nhất, rồi lấy
quần áo ra đổi chác. Quanh quẩn chỉ vài cái cứ đổi đi đổi lại lẫn lộn,
như bọn đánh bạc. Lúc thì ồn ào như đương chè chén ở hiệu cao lâu.
Lúc thì tranh nhau giá cả, bớt xén như ở nhà cầm đồ Vạn Bảo. Lúc
lại bắt chước vợ chồng ỏn ẻn, nũng nịu. Rồi hát tuồng, gẩy đàn
mồm, mãi khuya mới ngớt “cuộc vui”...” (Khiêng máy)
Có những truyện nói về cuộc sống cơ cực của người dân trong
vùng bị chiếm đóng.
“Hờn khoác thừng kéo cày vào người, lúc đổi vai, lúc thắt ngang
bụng. Cái cánh tay cụt giơ lên, cóng rét, bị nếp thừng kéo thít
xuống. Có hôm chỗ đau lại bật máu ra, chảy thấm xuống tận nách
áo. Nhưng Hờn vẫn cắn răng, lội. Hờn chỉ còn sức dựa vào cái
thừng, lạch đi. Trên cánh đồng này biết bao nhiêu người bì bõm
cầy bừa, cấy hái quanh năm như thế, cho đến lúc phía tỉnh
gầm gừ tiếng xe, trời tảng sáng, các đồn bốt dọc đường sắp xua
nhà phạt và lính tráng vác gậy đi dò mìn, thì những người làm
đồng kiệt sức mới lục đục về làng.” (Người mất trí)
Trong một thời gian khá dài (hơn bốn năm), tôi tham gia làm đề
tài nghiên cứu khoa học do anh Tô Hoài chủ trì. Thời gian đầu, một
tháng họp một lần. Công việc tiến triển hơi chậm, anh Tô Hoài
quyết định một tuần họp một lần. Tôi nghĩ bụng đến tuần thứ
ba không biết còn chuyện gì để mà bàn, có khi phải hai, ba chầu bia
mới hết buổi. Nhưng không phải như vậy. Tô Hoài là một kho
chuyện vô tận, có khi một nghìn lẻ một buổi họp vẫn chưa hết
chuyện, không riêng gì chuyện văn hóa, văn nghệ, hình như chuyện gì
anh cũng biết, chuyện nào anh cũng nhớ vài ba chi tiết đặc sắc,
rất quan trọng. Không riêng gì những thời kỳ gần đây, mà những
chuyện thời Tự lực văn đoàn và Thơ mới, thời Đề cương văn hóa và
https://thuviensach.vn
Văn hóa cứu quốc, những năm đầu kháng chiến... anh Tô Hoài
vẫn nhớ và nhớ tường tận. Những chuyện anh hồi tưởng và kể lại bao
giờ cũng hấp dẫn. Anh rất quan tâm đến sự chính xác: tên người,
địa danh, niên đại, những sự kiện lịch sử và những chi tiết của đời
sống thực tại. Tô Hoài hay nhận xét về những chỗ sai, không chính
xác trong các bài báo, bài văn và công trình nghiên cứu anh đọc
nhưng tôi chưa thấy ai nêu những điều không chính xác trong
những trang viết của anh. Duy có một lần Nguyễn Nguyên, một ký
giả lão thành ở Sài Goòng nói với tôi: “Trong bút ký, hồi ký của Tô
Hoài có những chi tiết thần tình, phải là một người sành ăn thì
miếng thịt chó ngon mới gọi là “đặm và phải chăng cái miếng thịt”.
Chỉ tiếc là trong một bài viết về “xóc đĩa” đăng trên
Kiến thức
ngày nay
hồi năm trước có những chi tiết sai, tôi có cảm tưởng là
Tô Hoài chưa từng bước chân vào sòng xóc đĩa.”
Nghe anh Tô Hoài hồi ức về “những năm tháng, con người và
cuộc đời”, tôi hình dung một lịch sử văn hóa, văn nghệ khác, không
giống như những điều được trình bày trong những bộ sử đã công
bố, nó phong phú hơn, sống động hơn, chứa chất kịch tính, xem ra
thảm hơn, mà cũng lớn lao hơn. Cuối cùng thì tôi thông, họp tuần
một lần không phải là nhiều vì đề tài nghiên cứu của chúng tôi có
liên quan mật thiết đến lịch sử văn hóa. Những chuyện anh Tô
Hoài hồi tưởng và kể lại thiên về giải ảo hơn là ảo hóa những người
thật, việc thật. Cách nhìn giải ảo thường là một nhân tố tiến bộ
trong văn hóa, nhất là khi người giải ảo có ý thức đặt sự thật cao hơn
những ước lệ và cấm kỵ. Tô Hoài quá hiểu lịch sử và lịch sử xem ra
cũng nể ngòi bút hồi ký của ông. Tô Hoài không chỉ là một nhà tiểu
thuyết phong tục có hạng, tác giả
Cát bụi chân ai
còn là một tác gia
hồi ký bậc thày, vả chăng những truyện hay của Tô Hoài thường là
mang tính chất hồi ký:
Giăng thề
(1943),
Mười năm
(1957
), Tự
https://thuviensach.vn
truyện
(1978),
Ba người khác
... Anh Tô Hoài không thích nói chuyện
sách vở nhưng khi nói chuyện đụng đến những công trình nghiên
cứu thì thấy anh có đọc và đọc khá nhiều. Tôi vẫn cho rằng khổ
công đọc sách là một biểu hiện đáng tin cậy của sự khiêm tốn, có thể
giả vờ khiêm tốn trong ứng xử nhưng đọc sách thì không giả vờ được.
Trong một chuyến thày trò trường viết văn Nguyễn Du hành hương
về Tiên Điền, Nghi Xuân thăm quê hương đại thi hào có nhà văn Tô
Hoài, chủ tịch đầu tiên và cuối cùng Hội đồng giáo dục Trường
Nguyễn Du cùng đi. Trong buổi lễ viếng mộ, mọi người nín lặng khi
nhà văn Tô Hoài bước ra đứng trước mộ. Ông thắp nhang, rưới rượu
lên mồ rồi ông rót rượu vào cái chén ông cầm trên tay và uống
cạn chén rượu trước mộ Nguyễn Du và trước mặt mọi người. Tôi nghe
tiếng mấy sinh viên viết văn thì thào: “Tô Hoài tranh thủ uống
rượu”, “Tô Hoài cũng ngang đấy chứ”... Tôi nghĩ đến hai câu thơ
chữ Hán trong bài thơ
Đối tửu
của Nguyễn Du:
Sinh tiền bất tận tam bôi tửu
Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi.
Diễn nghĩa:
Lúc sống không uống cạn hồ rượu
Chết rồi ai rưới ruợu trên mồ cho?
Làm đề tài nghiên cứu khoa học, về bất kỳ vấn đề nào anh
Tô Hoài cũng có chủ kiến riêng. Về vấn đề tranh luận: làm thơ
bằng
ý
hay bằng
chữ
? Ý kiến của Tô Hoài: làm thơ bằng chữ
nhưng vấn đề là người làm thơ
sống những chữ
của mình như thế
nào? Tôi thấy nói như vậy cũng là rõ và đủ. Đề tài của chúng tôi
được phân thành nhiều vấn đề. Giải quyết mỗi vấn đề, trong
https://thuviensach.vn
nhóm đề tài (có Ngọc Trai, Vương Trí Nhàn và tôi) mỗi người viết
bài, sau đó anh Tô Hoài tổng kết. Tôi nghiệm thấy trong bài tổng
kết, anh Tô Hoài hầu như chỉ trình bày những chủ kiến riêng của
anh. Mặt khác, anh Tô Hoài không bao giờ có ý định đưa ra những ý
kiến hướng dẫn, dù là dưới hình thức góp ý, gợi ý nhẹ nhàng. Riêng
tôi thấy cách làm việc như vậy hết sức dễ chịu. Có một buổi sinh
hoạt nhóm tôi trình bày những ý kiến của tôi về văn hóa làng. Sang
buổi sau anh Tô Hoài đưa tôi cuốn sách của Nguyễn Hồng Phong
về Công xã nông thôn và hỏi: “Hiến đã đọc cuốn này chưa?”. Quả
nhiên tôi chưa đọc cuốn này và đây là một tài liệu quý đối với đề
tài của tôi, không có nó nội dung bài viết của tôi sẽ kém phần
“chắc thiệt” nhiều. Trên đời có một loại ân nhân rất đáng quý
nhưng lại ít được chú ý, đó là những người biết ta đương cần đọc
cuốn sách gì và đưa cho ta một cách hồn nhiên đúng cuốn sách
ấy. Trong các bạn đồng nghiệp ở trong nước, loại ân nhân này rất
hiếm. Trong những bạn đồng nghiệp Pháp, Mỹ và Việt kiều dễ gặp
hơn những người sẵn sàng chia sẻ sách và tư liệu với mình. Không có
những cuốn sách mà Dan Duffy, Neil Jameison, François Jullien,
Nguyễn Bá Chung (Mỹ), Nguyễn Ngọc Giao (Pháp)... cho tôi, những
công trình biên khảo của tôi sẽ khó khăn hơn rất nhiều.
Những ý kiến riêng của anh Tô Hoài đôi khi rất bất ngờ. Trong
một cuộc hội thảo, có một diễn giả nói rất mạnh về sự thiếu khiêm
tốn trong giới trí thức. Đây là một định kiến phổ biến và tôi cũng
nghĩ như vậy. Giờ nghỉ, anh Tô Hoài nói với tôi: “Lạ thật, cứ nói đến
trí thức là nhấn mạnh vào bệnh không khiêm tốn, tất cả những
người trí thức tôi biết đều hết sức khiêm tốn, không khiêm tốn
làm sao có trí thức được?” Tôi thấy anh Tô Hoài có lý. Thiện cảm và
ác cảm ở anh Tô Hoài cũng rất riêng. Có một người bạn văn anh Tô
Hoài quen đã hơn bốn chục năm nhưng chưa lần nào anh đến chơi
https://thuviensach.vn
nhà, anh giải thích: “Giả dụ hôm nay tôi mời ông ấy ăn phở, y như
rằng ngày hôm sau ông ta mời bằng được trả lại ngay, những người
như vậy tôi thấy rất khó giao thiệp”.
Hoàng Ngọc Hiến
https://thuviensach.vn
Những ngày đầu
Mấy hôm nay, Tây đánh loang ra các làng và phố ngoại ô.
Vệ quốc đoàn và tự vệ chỗ nào cũng đương rối tít mù, lúc tiến
lên lúc chạy xuống, trong từng ngõ, từng cánh đồng.
Trên ụ đất cao lẩn giữa lũy tre cuối cánh đồng, đội trưởng
Trường đứng cầm ống nhòm nhìn ra. Trước mắt, đạn moóc-chi-ê
bay vòn vọt tới, đỏ hỏn, nổ oàng giữa sương mù. Ở dưới ruộng, từ
đằng xa chạy lại một bé liên lạc, vừa chạy vừa kêu to, váng cả vào
trong xóm.
- Vỡ mặt trận rồi! Vỡ mặt trận rồi!
Chú ấy là liên lạc Vệ quốc đoàn hay của tự vệ, hay có khi là Việt
gian đi phao tin, không biết chừng. Đội trưởng Trường quát to, bắt
thằng bé đứng lại. Nhưng nó đã chạy thẳng vào trong xóm, mặc kệ cả
đội trưởng đương giơ tay nhăm nhắm dứ quả lựu đạn. Tiếng kêu “vỡ
mặt trận” vẫn hốt hoảng lanh lảnh réo lên.
Ban tiếp tế đương thổi cơm, bỏ cả nồi, cả mấy chục cái bắp
cải và một cái nồi ba mươi mật giọt.
Thế rồi, không biết từ lúc nào, ngoài đường đã lại cồng kềnh
từng gánh, từng khiêng sổ sách, xanh nồi, lựu đạn, mã tấu và một
cái tượng Cụ Hồ bằng đất trắng… Người và đồ đạc ban chỉ huy
đội tự vệ lại chạy một lần nữa, lại chạy nữa. Lần này thì tràn được
vào trong làng rồi.
https://thuviensach.vn
Từ hôm Pháp đánh ra ngoài đầu ô, đội tự vệ ăn ở lưu động, lúc
nào cũng thiếu ngủ, mệt mỏi, lử lả, không biết thế nào là ngày là
đêm.
Cả vùng trống không không còn gì. Người các làng đã gồng gánh
sang bên kia sông rồi. Bởi vậy, đội tự vệ ở lại xác xơ chẳng còn đến
cả một nắm muối. Vậy mà đi đâu nặng mấy, cũng vẫn chịu khó
khiêng lắc lư cái nồi ba mươi, từng khiêng sổ sách…
Trên những thửa ruộng cải bắp, cải bẹ, cải thìa bỏ hoang, các chị
cứu thương và tiếp tế đi mót từng lá về luộc ăn vã. Có những anh
lấm vùi từ đầu tới chân, xách về một rổ tép xúc ở chuôm với một
xâu chuột đồng vừa hun được.
Tất cả, lố nhố, lếch thếch đuổi theo đám tự vệ quẩy đồ đạc
đi trước.
Đội trưởng Trường quát to:
- Phải… tư cách tự vệ mới được…
Nhưng chẳng ai nghe, họ vẫn chạy. Đội trưởng quát thì quát, chứ
đã đói dài, chẳng thể cấm nổi người đi mò, người đi mót.
Đội trưởng Trường và mấy người nữa chạy sau cùng. Vừa ra khỏi
cánh đồng, đã trông thấy đằng đầu làng bốc khói đen. Tây
đương đốt nhà đằng ấy. Trong chốc lát, khói đã mù mịt cả làng.
Tiếng nổ súng tắc bọp… tắc bọp… lác đác kỳ quái, nổi trên ngọn
tre. Nhiều người đi trên đường cái, kêu: “Việt gian! Việt gian!” Người
ta hốt hoảng đấy là tiếng súng “tắc bọp” của Việt gian bắn báo
hiệu. Ở đâu cũng thấy: đầu bụi tre cũng có tiếng tắc bọp.
https://thuviensach.vn
Nhiều người đương đi, bỗng thở không ra hơi, ngồi rũ xuống
khóc. Trường đứng lại, cầm cái ống nhòm giơ lên, quay nhìn lại.
Cánh đồng đương tan sương. Khói đốt làng nhòe nhòe vàng chóe
trong hai mắt kính ống nhòm. Có lẽ cái ống nhòm để cho người ta
tin tưởng võ khí hơn là tác dụng thật có của nó. Nhiều người cũng
đứng lại quanh Trường. Tiếng khóc thút thít. Những tròng mắt đỏ
hoe. Trên bãi cỏ, lao xao tiếng cãi nhau:
- Mất mẹ nó làng rồi!
- Đánh chác làm sao bây giờ?
Đội trưởng Trường buông ống nhòm xuống ngang thắt lưng,
gắt:
- Mất làng mà phải khóc a? Ở Nam Bộ người ta cũng đương khóc
cả đấy a? Không biết xấu hổ! Được, chúng ta sẽ tiến về tận làng,
sẽ cho nó biết tay.
Rồi Trường lại nâng ống nhòm, điềm nhiên quay phải, quay
trái. Mấy người cuối cùng còn sót lại trong làng đương chạy ra.
Thế là họ bỏ lại sau lưng cái làng rỗng không, không còn ai và
cũng không ai về làng được nữa. Tuy nói cứng vậy, nhưng Trường
cũng cảm thấy mủi lòng như vừa chạm phải một điều gì tủi cực,
uất ức. Đội tự vệ còn mười quả lựu đạn, mấy thanh kiếm, một cái
ống nhòm. Làm thế nào bây giờ?
Nhưng Trường vẫn cứ lẩm bẩm nói:
- Được, chúng mày sẽ biết…
https://thuviensach.vn
Câu nói dường như cũng làm cho mọi người vững tinh thần hơn.
Họ kéo vào đóng ở làng bên cạnh, xa xa Tây đã mon men ở bên kia
cánh đồng.
*
* *
Thình lình, ngay sớm hôm sau, quân địch lại tấn công.
Người các làng trên chạy xô xuống càng nhiều. Tiếng đạn nổ
chi chít, lắc cắc như ngô rang, chốc chốc lại điểm thòm một phát
moóc-chi-ê, như trống chầu, trống thúc.
Đại đội trưởng Vệ quốc đoàn đi tuần suốt đêm vừa về, đương
ngủ thu lu trong ổ rơm, lại choàng dậy. Đội trưởng tự vệ Trường lòe
xòe cái áo ba-đờ-xuy ngoài bằng dạ lót khố tải, tất tả, hớt hải chạy
theo. Từ hôm mặt trận lan tới, khi nào cũng thấy hai người đi với
nhau. Mỗi lúc, moóc-chi-ê câu xuống gần quanh thì cả hai lại bò
rạp rồi lại nhỏm lên chạy, lại nằm rạp, lại chúi xuống lạch nước.
Mỗi lần nằm tránh đạn như thế, đại đội trưởng Vệ quốc đoàn
người Tày vẫn như không chịu khuất phục, còn nghếch đầu lên,
chửi thật to:
- Chỏ mừ! Đồ chỏ mừ! Mẹ nó! Mẹ nó!
Hai người chạy bộ lên phía mặt trận. Có đến ba, bốn cây số!
Chốc chốc, gặp một ai còn lại trong làng bấy giờ mới chịu nhào ra,
thì cả hai người lại hấp tấp tranh nhau hỏi - dường không nhớ
rằng họ đương là những người chỉ huy quân sự.
- Trên ấy thế nào? Trên ấy thế nào, hả các ông các bà, các
đồng chí?
https://thuviensach.vn
- Vệ quốc đoàn bị thương nhiều lắm, các anh ơi!
Nghe thế, đại đội trưởng quay sang bảo đội trưởng tự vệ:
- Về gọi cứu thương mau lên.
Bấy giờ Trường mới ngớ ra, sực nhớ mình từ nãy đã chạy quàng
theo đại đội trưởng, quên cả đội tự vệ, cả công việc đã được phân công.
Trường quay trở lại.
Nhưng ở trạm cứu thương không còn ai. Cả tự vệ nữa, đi đâu hết.
Có lẽ họ ùa hết cả lên phía có tiếng súng rồi. Có lẽ họ đã chạy lên
mặt trận trước cả ta. Thì Vệ quốc đoàn cũng như tự vệ, chỉ đợi đi
đánh nhau, chân tay không, cũng cứ ra. Trường sục vào ban tiếp tế.
Ở đây, may quá, còn cô Mỳ và cô Phấn đứng đợi gánh cơm. Trường
hỏi. Quả nhiên, họ bảo:
- Lên tuốt trên ấy rồi. Sốt ruột quá!
Họ lên cả mặt trận mà đội trưởng cũng không biết. Trường càng
cuống quýt:
- Các chị lên ngay xem thế nào. Có ai bị thương thì đỡ đần anh
em về với.
Rồi Trường lại tất tả, lòe xòe cái áo dạ khoác, chạy bay lên phía
đương râm ran tiếng nổ.
Trên đường đằng ấy về, tự vệ và cứu thương các làng, và cả
người làng nữa, chốc lại một bọn, xúm xít khiêng người bị thương,
người chết về.
https://thuviensach.vn
Những tự vệ và cứu thương ở mặt trận từ tờ mờ sáng, vừa đói, vừa
rét, mặt xanh xám nhợt nhạt. Hơi thuốc súng còn quấn theo họ
xuống tận đây. Người và quần áo, và cả như hơi thở, bốc mùi khét
lèn lẹt.
Tây đã tới được bên kia bờ nước, chỗ đầu Cổng Rong.
Đánh nhau đến giữa trưa thì Vệ quốc đoàn rút về. Có lẽ bọn
địch cũng hết hơi, không tiến được nữa, đã dừng lại bên ấy. Tự vệ
các làng chia nhau bám suốt bờ bên này, gác lên tận miếu Giời Ơi,
ngay bên đầm, trông thẳng sang chỗ địch đóng. Bởi vậy, hễ từ làng
ra, vượt bãi tha ma sang miếu, địch ở bên kia đã trông thấy. Từ
đền Voi Phục, phải bò, nấp, toài qua từng mô đất, từng nấm mộ,
mới đến trạm gác được. Thế mà lúc nãy có một anh vô ý, bò
xuống, đã bị một phát đạn vèo sang cắt ngọt mất một miếng
mông.
Ra đến đầu tha ma, Phấn và Mỳ bỏ quang gánh lại. Mỗi người
ôm một rổ cơm, thả xuống bãi cỏ, đẩy đi trước mặt, rồi toài theo.
Bỗng nhiên, như từ một chỗ nào không biết, một băng liên thanh xíu
xíu réo vuốt trên ngọn cỏ cao. Cái rổ đứng im. Hai người cũng nằm
im dưới chân cỏ. Một lát, im lặng trở lại, bàn tay người lại giơ ra đụng
đậy cỏ đẩy cái rổ đi. Từng tràng liên thanh lại thun thút réo qua. Lại
đứng im, rồi lại bò. Cứ thế, mãi đến khi trông thấy chân tường
miếu Giời Ơi đen sì lấp sau mô đất cao, đoán đã có thể đội rổ đứng
lên được, thì cũng lúc ấy trời nhọ mặt người.
Có tiếng khàn khàn trong bụi rậm:
- À cơm ra, cơm ra…
https://thuviensach.vn
Mỳ và Phấn đã đứng lên, bê từng rổ cơm vào. Có một tiểu đội, cả
thảy chín, mười người trong miếu, xô đến, xúm quanh hai cái rổ đặt
giữa nền nhà. Phấn sắp xếp, rồi vào chỗ đội trưởng Trường cũng
đương ngồi nhồm nhoàm giữa các người quanh rổ cơm. Mấy hôm
nay mới lại được hạt cơm vào bụng. Ăn cải bắp luộc, chén thịt chó
bẹc giê không muối mãi, đã phát khiếp! Bây giờ, người nào cũng
mải ăn, quên, không ai để ý đến hai chị tiếp tế. Đến đỗi cả người
trạm gác cũng bổ vào vác một nắm cơm ra đứng nhai trong bụi cây.
Phấn bảo Trường:
- Anh cho chúng tôi khẩu lệnh để về.
Đội trưởng Trường lúc ấy mới nhìn ra cái sân miếu mờ mờ,
nhưng cũng không biết đấy là trời sáng trăng hay còn nhá nhem
tối, Trường cứ nói:
- Mai về sớm. Bây giờ khó đi lắm.
- Chúng tôi đi được!
- Vệ quốc đoàn gác dọc đường, không có khẩu lệnh nào đi suốt
nổi ba cây số được.
Tiếng khàn khàn chõ từ ngoài tường hoa vào nói đùa.
- Ở đây cho vui, các cô ạ. Tối ngày phiên mà nhà vẫn dệt cửi,
không nghỉ à?
- Cái anh này lúc nào cũng đùa được thôi!
Đội trưởng Trường ngó ra, gằn giọng, nửa mắng, nửa ra lệnh:
https://thuviensach.vn
- Ông ổng như chó cắn ấy à! Nó trước mặt kia kìa. Lại sắp ăn
thuốc lào hả? Cấm đấy! Này, tớ nhắc lại: hễ khẩu lệnh hai tiếng
hỏi mà không trả lời thì bắn lập tức.
Hai chị tiếp tế không đòi về nữa.
Cái miếu trở lại im lặng. Và thế là bắt đầu một đêm gác ngoài
mặt trận. Những người thợ dệt, thợ tơ trong các làng canh cửi, hôm
qua còn không biết thế nào là súng ống, bây giờ bỗng nhiên
nghiêm trang cầm giữ cả mặt trận đánh nhau với Tây.
Mùi đất ải trong tường mốc xông lên nặng nề, hâm hấp. Nghe
cả tiếng con dế tanh tách đạp càng. Thỉnh thoảng, xa xa, ầm một
tiếng nổ, rồi im. Vừa lúc nãy, bắc cái ống nhòm của đội trưởng
ngó sang còn nhìn rõ bờ bên kia bờ nước có thằng Tây quần áo
vàng lốp ngồi gác trong bờ tường nhà dầu Tam Đa, bây giờ đã mù
mịt sương, không thấy gì nữa. Thế là trên bãi tha ma và trong cái
miếu hoang im lặng này lại như không có vẻ là đương gay go. Lại từa
tựa những đêm cuối năm ngày trước, trai gái trong làng đi chợ Tết,
thường hẹn gặp nhau cùng đi, đợi ở cửa miếu “Giời Ơi, Ông Bảo”.
Trong bóng tối rét ngọt, chốc chốc lại rì rào khúc khích vài đốm
lửa thuốc lào.
Đội trưởng Trường ngồi bên tường, thanh kiếm dài chống trước
mặt. Mấy đêm nay Trường mất ngủ, mắt ráo trong. Hai bên hành
lang, người nằm thành những hình thù co quắp dựa tường, dựa
chân cột. Nhiều người đã lăn ra ngủ từ lúc buông tay hết nắm
cơm. Có chỗ vừa nghe lầm rầm chuyện đã khò khò ngáy rồi.
Trường cũng mỏi lắm. Nhưng có lúc Trường vẫn thấy khỏe. Cứ thế,
mải mê. Nhất là lúc này ngồi tựa tường, trông sang bóng các khuôn
mặt trăng trắng, mờ mờ, thế mà Trường nhận thấy ngay ra Phấn.
https://thuviensach.vn
Trường bồn chồn. Mấy hôm nay, Trường cũng như các anh em
đây, cuộc đời họ cuốn vào những điều xưa kia không bao giờ biết.
Cũng không ai có thể hiểu tại sao. Khung cửi, guồng tơ, chuyện làng
chuyện xóm hôm qua, vứt đi hết. Bây giờ, nhận ra Phấn và nhớ lại,
Trường muốn trò chuyện. Trường mới nhớ lại cái làng ta bình
thường mọi khi. Có khung cửi, có hội tháng Ba và cứ năm ngày một
phiên chợ lụa… Nhưng Trường cũng không biết nên nói chuyện gì,
đầu óc miên man, phảng phất. Rồi Trường băn khoăn, loay hoay
tự hỏi một câu không thể cắt nghĩa (và cũng để tìm chuyện tự vặn
mình): Sao Phấn không ra đây một mình?
Bên kia bệ đất, nghe tiếng Mỳ nói nho nhỏ: “Lạnh lưng quá”. Mỳ
vẫn thức. Mỳ vốn ngăm ngăm đen, mặt lẫn bóng tối. Trường không
nhìn thấy Mỳ tinh tường như thấy Phấn được. Tiếng Mỳ lại nói:
- Có trông thấy gì không, Phấn?
Phấn co ro đứng ra, nghển lên mặt tường hoa.
- Nó bò đến tận nơi cũng chẳng biết. Sương hồ Tây nhiều quá.
Trường nói khẽ:
- Cô Phấn, vào đi…
Phấn lại ngồi vào bóng tối lúc nãy.
- Anh Trường thức à? Rét không thể ngủ được.
- Nó hay bắn sang chỗ tường hoa lắm đấy.
Nói xong, Trường thấy hình như không phải mình muốn nói câu
ấy. Cũng như Trường muốn bảo: “Đừng ai nói, cái tiếng ban đêm
https://thuviensach.vn
nó vang xa lắm”, Trường không nói như thế. Trường muốn nói
một chuyện gì, một câu gì mà chưa tìm ra. Nhưng, xung quanh lặng
im quá, Trường thấy ngại. Vả lại, cả Mỳ vẫn thức ngồi đấy. Thế là
Trường lại chỉ ngồi và lặng lẽ nhìn sang hình khuôn mặt trăng trắng
tựa cột bên kia - chỉ ngồi cách nhau, có thể thò chân ra thì đụng
được. Sương lùa vào chỏm mũi lạnh ngắt. Trong lòng thoáng buồn
buồn. Từ hôm mặt trận lan tới, nay mới thấy mình nhơ nhớ như
thế.
Trường với Phấn, nhà mỗi người một xóm. Thật ra, không ai bận
đến nhau, cũng không hề có điều tiếng với nhau. Nhưng, cùng
một lứa tuổi. Bao giờ cũng vậy, trai gái trong làng và cùng một lứa
tuổi, thì mọi câu chuyện, họ thường tự nhiên nói đến nhau. Trai mới
lớn lên đều thuộc những loạt con gái bằng chà bằng lứa. Trường và
Phấn không hề bận gì với nhau, thật đấy, nhưng họ tưởng họ đã
biết nhau và hằng bận nghĩ tới nhau. Trường bỗng nhớ ra một câu
chuyện đã quên hẳn. Nhưng khi này nhớ thì lại tưởng là một chuyện
thấm thía vẫn nhớ. Tết năm ngoái, bọn Trường đi chơi sang làng
trên, gặp Phấn và mấy cô xóm dưới đi chùa. Hai cánh gặp nhau,
năm mới nói đùa cợt ra sao, Trường không nhớ. Trường chỉ nhớ mỗi
lần quay lại, thì hai bên lại cười. Bọn Trường hẹn nhau, nếu gặp
“chúng nó” ở đâu lại trêu nữa. Nhưng rồi Tết ấy cũng không gặp
lại ở đâu cả. Vả chăng, trong ngày Tết đầm ấm còn gặp biết bao
toán con gái khác, thế là rồi cũng nhãng đi. Thế mà, sao lúc này,
Trường bỗng nhớ lại mồn một. Cái anh chàng thợ cửi mà các bạn
thường chế giễu và ghen tị rằng anh ta có “số đào hoa” ấy đương
tơ tưởng lại lúc sáng, khi anh ta đến chỗ ban tiếp tế gặp Phấn. Và
sự tơ tưởng đã bắt đầu từ chỗ ấy, làm cho lòng Trường cứ dào dạt
vui lại man mác buồn. Trường cất tiếng khẽ hỏi Phấn:
https://thuviensach.vn
- Cô Phấn có nhớ Tết Độc lập năm ngoái không?
Phấn và Mỳ rúc rích cười. Nhưng Phấn trả lời ra một câu khác:
- Tết năm nay vui như năm ngoái chứ!
- Nhất định rồi. Tết kháng chiến phải vui hơn Tết năm
ngoái.
- Liệu có diễn kịch được không?
- Có chứ.
- Nữ giả hay nữ thật, ai đóng đấy?
Hai cô lại cười. (Tết năm ngoái, thanh niên làng chơi kịch, những
vai nữ đều là con trai đóng).
Cả mấy người nằm ngả nghiêng quanh đấy bỗng cũng cục cục
cười. Thì ra, họ tỉnh ngủ, không biết từ lúc nào. Có lẽ từ lúc hai cô
này cười nói. Tiếng nói cười của hai người con gái giữa miếu vắng,
giữa đám thanh niên đương nằm trước mũi súng, cũng như khói
thuốc lào bay vào mũi người nhịn quá bữa, sao mà cái khói nó làm
tỉnh người thế. Từ lúc ấy, những tiếng cười cứ bật lại tắt, bật lại
tắt theo câu chuyện, theo câu dậm dọa của đội trưởng.
- Năm nay các anh cắt cho tôi một vai kịch.
- Hoan hô!
- Có nữ thật rồi!
Một tràng liên thanh lia dài qua bãi tha ma. Câu chuyện bặt im.
Người nằm quanh chồm cả dậy, ngơ ngác một lát, rồi lại nằm
https://thuviensach.vn
xuống. Trường lặng lẽ, chống kiếm, đứng quỳ một gối, quay mặt
ra cửa, quan sát. Phấn bò men tới, hỏi khẽ:
- Nó tấn công hả?
- Chưa biết.
Đất lạnh như đá thấu vào gan bàn chân lên đến đầu gối,
tưởng buốt tê cả người đến nơi.
Tiếng moóc-chi-ê nhịp đôi oàng xuống, ngay sau tường. Những
gã mê ngủ nhất cũng choàng dậy. Có người hoảng hốt chạy ra ngoài
bụi dứa. Trường bắc hai tay lên làm loa, quát khẽ:
- Lui vào, lui cả vào đầu tường. Đề phòng địch tấn công…
Nhưng, một lúc rất lâu, không thấy động dạng gì. Chỉ có tiếng
moóc-chi-ê oàng oàng cầm canh. Không còn ai ngủ được. Nhưng
cũng không đề phòng nữa. Cả bọn cứ thức và lại chuyện gẫu. Câu
chuyện moóc-chi-ê lại xoay quanh bàn bạc năm nay Tết thế nào, ở
đâu.
Rồi có một lúc Phấn nhìn ra ngoài trời sương, ngạc nhiên, nửa
nói, nửa hỏi:
- Sáng rồi à?
Nhiều người nhìn ra:
- Sáng rồi.
Trường nói:
- Chóng hết đêm quá, cô Phấn nhỉ!
https://thuviensach.vn
Đội tự vệ làng dưới đã bò ra đổi gác. Trường và các bạn trở về. Họ
tuồi qua bãi tha ma sương mù im lặng, rét tái người, quần áo ướt
sũng.
Đã về qua đầu làng. Tiếng moóc-chi-ê chỉ còn vọng đằng sau
lưng. Bấy giờ Trường quay lại, nói với cả bọn đi sau:
- Tết năm ngoái chúng mình gặp bọn cô Phấn đi chùa qua chỗ
này.
Thật thì không phải ở chỗ ấy. Trường nói hươu chơi thế thôi. Và
chẳng biết Phấn có nhớ không, Phấn cười:
- À, ở chỗ này à?
Rồi Phấn hỏi:
- Vở kịch Tết năm nay, có khó đóng thật không, anh Trường?
- Nhất định cô Phấn làm một vai.
Cả bọn cùng cười to. Trường trông thấy cái đuôi mắt Phấn liếc
mình.
Họ lại râm ran chuyện Tết và diễn kịch. Không gặp người, nhưng
nếu gặp, chắc không ai tưởng những người đương vui chuyện ấy
vừa thức trắng đêm.
Và những đêm sau nữa cũng thế.
*
* *
Mặt trận vẫn đứng lại bên kia bờ hồ Tây chỗ Cổng Rong.
https://thuviensach.vn
Đội tự vệ gác ở miếu Giời Ơi nhìn sang hôm nào cũng thấy một
lính Tây gác mặc áo vàng lốp, ngồi nguyên một chỗ bờ tường nhà
dầu Tam Đa.
Vệ quốc đoàn rút đi nơi khác rồi. Chỉ còn lại đội tự vệ các làng.
Nhưng làng nào cũng chạy loạn hết, không còn ai tiếp tế, tự vệ
phải đi kiếm ăn lấy để có sức gác. Bữa đói bữa no thất thường. Tuy
nhiên, lúc nào tụ lại chỉ toàn gẫu chuyện Tết sắp đến.
Thế rồi Ba mươi Tết đã đến.
Hôm ấy, lạ lùng chưa, nhìn sang bờ nước không thấy thằng nào
gác bên kia. Cái ống nhòm của đội trưởng Trường được mọi người
thay nhau nhòm sang nhiều lần cũng không thấy nó. Hay là
chúng nó rút lên đóng trên đường Thành rồi? Thế là đội tự vệ
quyết định về làng, ngay trong đêm nay. Việc làm quả quyết được
đội trưởng Trường đồng ý. “Phải về ăn Giao thừa ở làng mới được.
Có bao giờ Tết lại bỏ làng đi! Các cụ dưới âm về không thấy con
cháu thì các cụ chửi chết”. Thế là ai nấy đều hào hứng.
Đêm Ba mươi, cách ba bước không trông thấy gì. Tối quá.
Nhưng rất nhanh, nh...
Table of Contents
... Sừng sững một tòa ngôn ngữ chân chất, tinh diệu…
Những ngày đầu
Khiêng máy
Thảo
Tội làng
Khác trước
Người mất trí
Chuyện đầm sen đền Đồng Cổ
Bác Niệm
Hai đứa trẻ đợi đi
Một đêm gác rừng
Hết một buổi chiều
Chuyện cũ
Hoa bìm biển
Chuyện để quên
Tình buồn
Cối, cối ơ!
Nước mắt
https://thuviensach.vn
... Sừng sững một tòa ngôn ngữ
chân chất, tinh diệu…
(Thay lời giới thiệu)
Trong tập tùy bút
Thăm thẳm bóng người
của Đỗ Chu, Nguyễn
Tuân, Tô Hoài được tác giả giới thiệu bằng cảm hứng và lời văn trác
tuyệt. Trong thăm thẳm bóng
người
có bóng
ta.
Có thăm thẳm bóng
Nguyễn Tuân trong những kiệt tác ông để lại cho đời. Tô Hoài còn
đấy, “
đứng chống đòn gánh, dưới chân là hai quang sách nặng
”,
bóng của hàng triệu độc giả hòa vào bóng Tô Hoài trong những tác
phẩm bất hủ của ông. Trước “cốt kiêu” và uy bút lực của hai ông, Đỗ
Chu - lần đầu tiên tôi thấy - ... đứng khép nép.
Tôi đã có lần khép nép trước một tác phẩm của Tô Hoài, đó là
Chuyện đầm sen Đền Đồng Cổ
in trong tập truyện ngắn này. Sau
Giăng thề,
đây là kiệt tác thứ hai của Tô Hoài. (
Dế mèn phiêu lưu
ký
đương nhiên là một tác phẩm bất hủ, nhưng ý tôi nên xếp sang
một chiếu khác). Trong
Chuyện đầm sen Đền Đồng Cổ,
hơi thở
hùng tráng của lịch sử vừa kín đáo, vừa mãnh liệt chạm vào tình cảm
sâu lắng nhất của bất kỳ độc giả người Việt nào. Ta gặp lại đam mê
của Tô Hoài quan sát những lễ tục dân gian và sự am hiểu tinh tường
những tập quán ngành nghề, sinh hoạt mà tác giả miêu tả.
Cảnh đám rước kiệu “bà” quay tròn:
“
Kiệu bát cống quay tròn, bây giờ mới thật như chiếc hoa giữa
đám hội, vừa bay vừa cong cánh nở. Lòng hân hoan mong đợi của cả
https://thuviensach.vn
ngàn người xem hội cứ thế bồng bột mãi lên. Hai mươi bốn trai
kiệu, nghe tiếng trống khẩu, một lượt quỳ như hai mươi bốn thớt
voi rồi từ từ bò qua gò, vai kiệu vẫn phẳng lừ như tường đứng.
” (tr.
146)
Mùa vụ cây dó (làm bột giấy):
“
Cạn kỳ dó chính tuyết, vừa cuối thu. Lần sang vụ dó Một
Chạp đến tháng Giêng là “đầu giao”. Một Chạp hay “đầu giao”,
áo dó mới lột, quệt sương hay mưa đều ố nước, mất công phơi
nhiều nắng mới bó được. Nhưng vừa xong cái vất vả rừng này lại
phải lặn lội sang rừng khác, đã vào vụ dó chiêm. Dó chiêm tiếp dó
đuôi tháng, quanh lại vừa trở lại chính tuyết.
” (tr. 163)
Đúng là Tô Hoài. Chỉ có thể là Tô Hoài.
Nhưng cái mà tôi kính nể là đọc tác phẩm này tôi như đứng trước
sừng sững một
tòa ngôn ngữ
chân chất và tinh diệu. “Trong ngọc”
nhất trong tòa ngôn ngữ này là những câu văn thuộc loại “văn xuôi
thơ” sáng giá của văn chương Việt Nam hiện đại. Đây là những câu
văn tả tình cảnh một người con gái ngồi trên thuyền ngược sông đi
lấy chồng giầu mạn ngược:
“Những lời hò vui mà thảm thiết:
Ra khoang… em bước… qua cầu…
Bến vui em đến…
Trên mui bỗng lóng lánh một trời sao. Con thuyền đêm nao
cũng đi qua một trời sao ấy. Dù cho con người có cạn nước mắt
rồi cũng muốn hy vọng, như người chèo thuyền mong đến
bến…
https://thuviensach.vn
Một đêm, Hạ ra khoang sau. Hạ ngồi một lúc thật lâu. Bốn bề
lặng ngắt. Những ngôi sao long lanh nhỏ lã chã những giọt nước
mắt xuống thế gian…”
(tr. 162)
Một lần Hội nghị nhà văn trẻ, nghe giới thiệu nhà văn Tô Hoài
lên phát biểu ý kiến, cả hội trường im phăng phắc. Trái với sự chờ
đợi của mọi người, nhà văn lão thành lên diễn đàn chỉ để nói với các
nhà văn trẻ một câu: “…
chừng nào chưa phân biệt được “
mồm
” và
“
miệng
” thì đừng có cầm bút…
”. Tôi thiết nghĩ các bạn trẻ háo
hức viết văn nên tìm đọc
Chuyện đầm sen Đền Đồng Cổ
, đọc
xong mà nhận ra được vốn ngôn từ của mình sao mà nó nghèo nàn,
thảm hại, xô bồ đến thế thì dù có tiến hay thoái cũng là một sự
thức nhận hết sức có ích.
Thăm thẳm bóng người
trong tập truyện ngắn này:
Bóng cô Cúc, “một sinh viên người Huế đẹp tuyệt trần” được
nhà văn Tô Hoài trao cho bản thảo cuốn tiểu thuyết
Đêm mưa “
một chiều đông rét mướt” năm 1946 và tòa nhà lưu niệm “tiêu điều,
ảm đạm” của bà Điềm (cô Cúc năm xưa, nay đã trở thành nhà điêu
khắc nổi tiếng Điềm Phùng Thị),...
“trong những tủ kính trang
nhã, phủ bụi mấy bức khắc tự họa của nhà điêu khắc”.
(Hồi ký
Tiểu thuyết đêm mưa)
Một người đàn bà “cả đời chỉ đi bói chèo ước mong tái hợp” vì
chồng đi “đất đỏ Sài Goòng” mãi không trở về. (
Cô đào Thương)
Bà Tứ dở điên dở dại lúc hấp hối phải gặp được người tình năm
xưa mới yên tâm nhắm mắt. (
Tình buồn)
Có một loạt truyện giúp độc giả hình dung được đầy đủ hơn trí
tưởng tượng kỳ thú và hóm hỉnh của tác giả
Dế mèn phiêu lưu ký
:
https://thuviensach.vn
Đôi ri đá, Con gà trống ri, Truyện gã chuột bạch, Một cuộc bể dâu,
Mụ ngan…
Trong những truyện về các dân tộc miền núi mà tiêu biểu là
truyện
Vợ chồng A Phủ,
còn gì giản dị và sâu sắc hơn tinh thần
cứu đất cứu mường nảy sinh trong tâm khảm và gắn với cuộc đời
của các nhân vật.
“
… Nhấn nhớ lại cả cái đời thảm của mẹ và của mình. Nhấn
muốn khóc.
Giữa khi ấy thì tiếng chim kỳ lanh lảnh như tiếng kèn giục
phường săn. Nhấn không khóc được. Nhưng từ đấy, trong đời
chiến đấu của người bộ đội, mỗi khi nghe trên cánh rừng, đầu
rừng nào có tiếng chim kỳ kêu, Nhấn tưởng hồn mẹ và hồn em
đi đâu cũng đuổi theo Nhấn
.” (
Cứu đất cứu mường)
Tập
Chuyện để quên
có những truyện rất “quý”, làm sống lại
không khí hồ hởi hồn nhiên của những năm đầu kháng chiến,
những đoàn dân công, bộ đội, cán bộ đi công tác…
Truyện - ký
Khiêng máy
là một tác phẩm xuất sắc. Tiêu biểu là
cảnh đám công nhân nhà in báo “
Cứu quốc Việt Bắc”
khiêng máy
nghỉ lại ở lán.
“…Cứ tối đến, các lán sàn trên, sàn dưới, hai tầng ghép lại
bằng ống vầu tươi, người nằm người ngồi ngổn ngang. Một
ngày cật lực khiêng máy, vác giấy, tải gạo, tải muối… Tưởng như
mỗi khi ngả lưng xuống thì thiếp đi đến chết. Tiếng moóc-chi-ê
ình oàng vào sương đêm, không biết từ phía nào. Nhưng chẳng ai
có thể chợp mắt. Từ chập tối đến khuya, người nằm cứ rào rào
kháo đủ các thứ chuyện. Chẳng chuyện nào vào chuyện nào, nhưng
https://thuviensach.vn
thú vị, hả hê. Họ đố nhau ăn uống cái gì ngon nhất, rồi lấy
quần áo ra đổi chác. Quanh quẩn chỉ vài cái cứ đổi đi đổi lại lẫn lộn,
như bọn đánh bạc. Lúc thì ồn ào như đương chè chén ở hiệu cao lâu.
Lúc thì tranh nhau giá cả, bớt xén như ở nhà cầm đồ Vạn Bảo. Lúc
lại bắt chước vợ chồng ỏn ẻn, nũng nịu. Rồi hát tuồng, gẩy đàn
mồm, mãi khuya mới ngớt “cuộc vui”...” (Khiêng máy)
Có những truyện nói về cuộc sống cơ cực của người dân trong
vùng bị chiếm đóng.
“Hờn khoác thừng kéo cày vào người, lúc đổi vai, lúc thắt ngang
bụng. Cái cánh tay cụt giơ lên, cóng rét, bị nếp thừng kéo thít
xuống. Có hôm chỗ đau lại bật máu ra, chảy thấm xuống tận nách
áo. Nhưng Hờn vẫn cắn răng, lội. Hờn chỉ còn sức dựa vào cái
thừng, lạch đi. Trên cánh đồng này biết bao nhiêu người bì bõm
cầy bừa, cấy hái quanh năm như thế, cho đến lúc phía tỉnh
gầm gừ tiếng xe, trời tảng sáng, các đồn bốt dọc đường sắp xua
nhà phạt và lính tráng vác gậy đi dò mìn, thì những người làm
đồng kiệt sức mới lục đục về làng.” (Người mất trí)
Trong một thời gian khá dài (hơn bốn năm), tôi tham gia làm đề
tài nghiên cứu khoa học do anh Tô Hoài chủ trì. Thời gian đầu, một
tháng họp một lần. Công việc tiến triển hơi chậm, anh Tô Hoài
quyết định một tuần họp một lần. Tôi nghĩ bụng đến tuần thứ
ba không biết còn chuyện gì để mà bàn, có khi phải hai, ba chầu bia
mới hết buổi. Nhưng không phải như vậy. Tô Hoài là một kho
chuyện vô tận, có khi một nghìn lẻ một buổi họp vẫn chưa hết
chuyện, không riêng gì chuyện văn hóa, văn nghệ, hình như chuyện gì
anh cũng biết, chuyện nào anh cũng nhớ vài ba chi tiết đặc sắc,
rất quan trọng. Không riêng gì những thời kỳ gần đây, mà những
chuyện thời Tự lực văn đoàn và Thơ mới, thời Đề cương văn hóa và
https://thuviensach.vn
Văn hóa cứu quốc, những năm đầu kháng chiến... anh Tô Hoài
vẫn nhớ và nhớ tường tận. Những chuyện anh hồi tưởng và kể lại bao
giờ cũng hấp dẫn. Anh rất quan tâm đến sự chính xác: tên người,
địa danh, niên đại, những sự kiện lịch sử và những chi tiết của đời
sống thực tại. Tô Hoài hay nhận xét về những chỗ sai, không chính
xác trong các bài báo, bài văn và công trình nghiên cứu anh đọc
nhưng tôi chưa thấy ai nêu những điều không chính xác trong
những trang viết của anh. Duy có một lần Nguyễn Nguyên, một ký
giả lão thành ở Sài Goòng nói với tôi: “Trong bút ký, hồi ký của Tô
Hoài có những chi tiết thần tình, phải là một người sành ăn thì
miếng thịt chó ngon mới gọi là “đặm và phải chăng cái miếng thịt”.
Chỉ tiếc là trong một bài viết về “xóc đĩa” đăng trên
Kiến thức
ngày nay
hồi năm trước có những chi tiết sai, tôi có cảm tưởng là
Tô Hoài chưa từng bước chân vào sòng xóc đĩa.”
Nghe anh Tô Hoài hồi ức về “những năm tháng, con người và
cuộc đời”, tôi hình dung một lịch sử văn hóa, văn nghệ khác, không
giống như những điều được trình bày trong những bộ sử đã công
bố, nó phong phú hơn, sống động hơn, chứa chất kịch tính, xem ra
thảm hơn, mà cũng lớn lao hơn. Cuối cùng thì tôi thông, họp tuần
một lần không phải là nhiều vì đề tài nghiên cứu của chúng tôi có
liên quan mật thiết đến lịch sử văn hóa. Những chuyện anh Tô
Hoài hồi tưởng và kể lại thiên về giải ảo hơn là ảo hóa những người
thật, việc thật. Cách nhìn giải ảo thường là một nhân tố tiến bộ
trong văn hóa, nhất là khi người giải ảo có ý thức đặt sự thật cao hơn
những ước lệ và cấm kỵ. Tô Hoài quá hiểu lịch sử và lịch sử xem ra
cũng nể ngòi bút hồi ký của ông. Tô Hoài không chỉ là một nhà tiểu
thuyết phong tục có hạng, tác giả
Cát bụi chân ai
còn là một tác gia
hồi ký bậc thày, vả chăng những truyện hay của Tô Hoài thường là
mang tính chất hồi ký:
Giăng thề
(1943),
Mười năm
(1957
), Tự
https://thuviensach.vn
truyện
(1978),
Ba người khác
... Anh Tô Hoài không thích nói chuyện
sách vở nhưng khi nói chuyện đụng đến những công trình nghiên
cứu thì thấy anh có đọc và đọc khá nhiều. Tôi vẫn cho rằng khổ
công đọc sách là một biểu hiện đáng tin cậy của sự khiêm tốn, có thể
giả vờ khiêm tốn trong ứng xử nhưng đọc sách thì không giả vờ được.
Trong một chuyến thày trò trường viết văn Nguyễn Du hành hương
về Tiên Điền, Nghi Xuân thăm quê hương đại thi hào có nhà văn Tô
Hoài, chủ tịch đầu tiên và cuối cùng Hội đồng giáo dục Trường
Nguyễn Du cùng đi. Trong buổi lễ viếng mộ, mọi người nín lặng khi
nhà văn Tô Hoài bước ra đứng trước mộ. Ông thắp nhang, rưới rượu
lên mồ rồi ông rót rượu vào cái chén ông cầm trên tay và uống
cạn chén rượu trước mộ Nguyễn Du và trước mặt mọi người. Tôi nghe
tiếng mấy sinh viên viết văn thì thào: “Tô Hoài tranh thủ uống
rượu”, “Tô Hoài cũng ngang đấy chứ”... Tôi nghĩ đến hai câu thơ
chữ Hán trong bài thơ
Đối tửu
của Nguyễn Du:
Sinh tiền bất tận tam bôi tửu
Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi.
Diễn nghĩa:
Lúc sống không uống cạn hồ rượu
Chết rồi ai rưới ruợu trên mồ cho?
Làm đề tài nghiên cứu khoa học, về bất kỳ vấn đề nào anh
Tô Hoài cũng có chủ kiến riêng. Về vấn đề tranh luận: làm thơ
bằng
ý
hay bằng
chữ
? Ý kiến của Tô Hoài: làm thơ bằng chữ
nhưng vấn đề là người làm thơ
sống những chữ
của mình như thế
nào? Tôi thấy nói như vậy cũng là rõ và đủ. Đề tài của chúng tôi
được phân thành nhiều vấn đề. Giải quyết mỗi vấn đề, trong
https://thuviensach.vn
nhóm đề tài (có Ngọc Trai, Vương Trí Nhàn và tôi) mỗi người viết
bài, sau đó anh Tô Hoài tổng kết. Tôi nghiệm thấy trong bài tổng
kết, anh Tô Hoài hầu như chỉ trình bày những chủ kiến riêng của
anh. Mặt khác, anh Tô Hoài không bao giờ có ý định đưa ra những ý
kiến hướng dẫn, dù là dưới hình thức góp ý, gợi ý nhẹ nhàng. Riêng
tôi thấy cách làm việc như vậy hết sức dễ chịu. Có một buổi sinh
hoạt nhóm tôi trình bày những ý kiến của tôi về văn hóa làng. Sang
buổi sau anh Tô Hoài đưa tôi cuốn sách của Nguyễn Hồng Phong
về Công xã nông thôn và hỏi: “Hiến đã đọc cuốn này chưa?”. Quả
nhiên tôi chưa đọc cuốn này và đây là một tài liệu quý đối với đề
tài của tôi, không có nó nội dung bài viết của tôi sẽ kém phần
“chắc thiệt” nhiều. Trên đời có một loại ân nhân rất đáng quý
nhưng lại ít được chú ý, đó là những người biết ta đương cần đọc
cuốn sách gì và đưa cho ta một cách hồn nhiên đúng cuốn sách
ấy. Trong các bạn đồng nghiệp ở trong nước, loại ân nhân này rất
hiếm. Trong những bạn đồng nghiệp Pháp, Mỹ và Việt kiều dễ gặp
hơn những người sẵn sàng chia sẻ sách và tư liệu với mình. Không có
những cuốn sách mà Dan Duffy, Neil Jameison, François Jullien,
Nguyễn Bá Chung (Mỹ), Nguyễn Ngọc Giao (Pháp)... cho tôi, những
công trình biên khảo của tôi sẽ khó khăn hơn rất nhiều.
Những ý kiến riêng của anh Tô Hoài đôi khi rất bất ngờ. Trong
một cuộc hội thảo, có một diễn giả nói rất mạnh về sự thiếu khiêm
tốn trong giới trí thức. Đây là một định kiến phổ biến và tôi cũng
nghĩ như vậy. Giờ nghỉ, anh Tô Hoài nói với tôi: “Lạ thật, cứ nói đến
trí thức là nhấn mạnh vào bệnh không khiêm tốn, tất cả những
người trí thức tôi biết đều hết sức khiêm tốn, không khiêm tốn
làm sao có trí thức được?” Tôi thấy anh Tô Hoài có lý. Thiện cảm và
ác cảm ở anh Tô Hoài cũng rất riêng. Có một người bạn văn anh Tô
Hoài quen đã hơn bốn chục năm nhưng chưa lần nào anh đến chơi
https://thuviensach.vn
nhà, anh giải thích: “Giả dụ hôm nay tôi mời ông ấy ăn phở, y như
rằng ngày hôm sau ông ta mời bằng được trả lại ngay, những người
như vậy tôi thấy rất khó giao thiệp”.
Hoàng Ngọc Hiến
https://thuviensach.vn
Những ngày đầu
Mấy hôm nay, Tây đánh loang ra các làng và phố ngoại ô.
Vệ quốc đoàn và tự vệ chỗ nào cũng đương rối tít mù, lúc tiến
lên lúc chạy xuống, trong từng ngõ, từng cánh đồng.
Trên ụ đất cao lẩn giữa lũy tre cuối cánh đồng, đội trưởng
Trường đứng cầm ống nhòm nhìn ra. Trước mắt, đạn moóc-chi-ê
bay vòn vọt tới, đỏ hỏn, nổ oàng giữa sương mù. Ở dưới ruộng, từ
đằng xa chạy lại một bé liên lạc, vừa chạy vừa kêu to, váng cả vào
trong xóm.
- Vỡ mặt trận rồi! Vỡ mặt trận rồi!
Chú ấy là liên lạc Vệ quốc đoàn hay của tự vệ, hay có khi là Việt
gian đi phao tin, không biết chừng. Đội trưởng Trường quát to, bắt
thằng bé đứng lại. Nhưng nó đã chạy thẳng vào trong xóm, mặc kệ cả
đội trưởng đương giơ tay nhăm nhắm dứ quả lựu đạn. Tiếng kêu “vỡ
mặt trận” vẫn hốt hoảng lanh lảnh réo lên.
Ban tiếp tế đương thổi cơm, bỏ cả nồi, cả mấy chục cái bắp
cải và một cái nồi ba mươi mật giọt.
Thế rồi, không biết từ lúc nào, ngoài đường đã lại cồng kềnh
từng gánh, từng khiêng sổ sách, xanh nồi, lựu đạn, mã tấu và một
cái tượng Cụ Hồ bằng đất trắng… Người và đồ đạc ban chỉ huy
đội tự vệ lại chạy một lần nữa, lại chạy nữa. Lần này thì tràn được
vào trong làng rồi.
https://thuviensach.vn
Từ hôm Pháp đánh ra ngoài đầu ô, đội tự vệ ăn ở lưu động, lúc
nào cũng thiếu ngủ, mệt mỏi, lử lả, không biết thế nào là ngày là
đêm.
Cả vùng trống không không còn gì. Người các làng đã gồng gánh
sang bên kia sông rồi. Bởi vậy, đội tự vệ ở lại xác xơ chẳng còn đến
cả một nắm muối. Vậy mà đi đâu nặng mấy, cũng vẫn chịu khó
khiêng lắc lư cái nồi ba mươi, từng khiêng sổ sách…
Trên những thửa ruộng cải bắp, cải bẹ, cải thìa bỏ hoang, các chị
cứu thương và tiếp tế đi mót từng lá về luộc ăn vã. Có những anh
lấm vùi từ đầu tới chân, xách về một rổ tép xúc ở chuôm với một
xâu chuột đồng vừa hun được.
Tất cả, lố nhố, lếch thếch đuổi theo đám tự vệ quẩy đồ đạc
đi trước.
Đội trưởng Trường quát to:
- Phải… tư cách tự vệ mới được…
Nhưng chẳng ai nghe, họ vẫn chạy. Đội trưởng quát thì quát, chứ
đã đói dài, chẳng thể cấm nổi người đi mò, người đi mót.
Đội trưởng Trường và mấy người nữa chạy sau cùng. Vừa ra khỏi
cánh đồng, đã trông thấy đằng đầu làng bốc khói đen. Tây
đương đốt nhà đằng ấy. Trong chốc lát, khói đã mù mịt cả làng.
Tiếng nổ súng tắc bọp… tắc bọp… lác đác kỳ quái, nổi trên ngọn
tre. Nhiều người đi trên đường cái, kêu: “Việt gian! Việt gian!” Người
ta hốt hoảng đấy là tiếng súng “tắc bọp” của Việt gian bắn báo
hiệu. Ở đâu cũng thấy: đầu bụi tre cũng có tiếng tắc bọp.
https://thuviensach.vn
Nhiều người đương đi, bỗng thở không ra hơi, ngồi rũ xuống
khóc. Trường đứng lại, cầm cái ống nhòm giơ lên, quay nhìn lại.
Cánh đồng đương tan sương. Khói đốt làng nhòe nhòe vàng chóe
trong hai mắt kính ống nhòm. Có lẽ cái ống nhòm để cho người ta
tin tưởng võ khí hơn là tác dụng thật có của nó. Nhiều người cũng
đứng lại quanh Trường. Tiếng khóc thút thít. Những tròng mắt đỏ
hoe. Trên bãi cỏ, lao xao tiếng cãi nhau:
- Mất mẹ nó làng rồi!
- Đánh chác làm sao bây giờ?
Đội trưởng Trường buông ống nhòm xuống ngang thắt lưng,
gắt:
- Mất làng mà phải khóc a? Ở Nam Bộ người ta cũng đương khóc
cả đấy a? Không biết xấu hổ! Được, chúng ta sẽ tiến về tận làng,
sẽ cho nó biết tay.
Rồi Trường lại nâng ống nhòm, điềm nhiên quay phải, quay
trái. Mấy người cuối cùng còn sót lại trong làng đương chạy ra.
Thế là họ bỏ lại sau lưng cái làng rỗng không, không còn ai và
cũng không ai về làng được nữa. Tuy nói cứng vậy, nhưng Trường
cũng cảm thấy mủi lòng như vừa chạm phải một điều gì tủi cực,
uất ức. Đội tự vệ còn mười quả lựu đạn, mấy thanh kiếm, một cái
ống nhòm. Làm thế nào bây giờ?
Nhưng Trường vẫn cứ lẩm bẩm nói:
- Được, chúng mày sẽ biết…
https://thuviensach.vn
Câu nói dường như cũng làm cho mọi người vững tinh thần hơn.
Họ kéo vào đóng ở làng bên cạnh, xa xa Tây đã mon men ở bên kia
cánh đồng.
*
* *
Thình lình, ngay sớm hôm sau, quân địch lại tấn công.
Người các làng trên chạy xô xuống càng nhiều. Tiếng đạn nổ
chi chít, lắc cắc như ngô rang, chốc chốc lại điểm thòm một phát
moóc-chi-ê, như trống chầu, trống thúc.
Đại đội trưởng Vệ quốc đoàn đi tuần suốt đêm vừa về, đương
ngủ thu lu trong ổ rơm, lại choàng dậy. Đội trưởng tự vệ Trường lòe
xòe cái áo ba-đờ-xuy ngoài bằng dạ lót khố tải, tất tả, hớt hải chạy
theo. Từ hôm mặt trận lan tới, khi nào cũng thấy hai người đi với
nhau. Mỗi lúc, moóc-chi-ê câu xuống gần quanh thì cả hai lại bò
rạp rồi lại nhỏm lên chạy, lại nằm rạp, lại chúi xuống lạch nước.
Mỗi lần nằm tránh đạn như thế, đại đội trưởng Vệ quốc đoàn
người Tày vẫn như không chịu khuất phục, còn nghếch đầu lên,
chửi thật to:
- Chỏ mừ! Đồ chỏ mừ! Mẹ nó! Mẹ nó!
Hai người chạy bộ lên phía mặt trận. Có đến ba, bốn cây số!
Chốc chốc, gặp một ai còn lại trong làng bấy giờ mới chịu nhào ra,
thì cả hai người lại hấp tấp tranh nhau hỏi - dường không nhớ
rằng họ đương là những người chỉ huy quân sự.
- Trên ấy thế nào? Trên ấy thế nào, hả các ông các bà, các
đồng chí?
https://thuviensach.vn
- Vệ quốc đoàn bị thương nhiều lắm, các anh ơi!
Nghe thế, đại đội trưởng quay sang bảo đội trưởng tự vệ:
- Về gọi cứu thương mau lên.
Bấy giờ Trường mới ngớ ra, sực nhớ mình từ nãy đã chạy quàng
theo đại đội trưởng, quên cả đội tự vệ, cả công việc đã được phân công.
Trường quay trở lại.
Nhưng ở trạm cứu thương không còn ai. Cả tự vệ nữa, đi đâu hết.
Có lẽ họ ùa hết cả lên phía có tiếng súng rồi. Có lẽ họ đã chạy lên
mặt trận trước cả ta. Thì Vệ quốc đoàn cũng như tự vệ, chỉ đợi đi
đánh nhau, chân tay không, cũng cứ ra. Trường sục vào ban tiếp tế.
Ở đây, may quá, còn cô Mỳ và cô Phấn đứng đợi gánh cơm. Trường
hỏi. Quả nhiên, họ bảo:
- Lên tuốt trên ấy rồi. Sốt ruột quá!
Họ lên cả mặt trận mà đội trưởng cũng không biết. Trường càng
cuống quýt:
- Các chị lên ngay xem thế nào. Có ai bị thương thì đỡ đần anh
em về với.
Rồi Trường lại tất tả, lòe xòe cái áo dạ khoác, chạy bay lên phía
đương râm ran tiếng nổ.
Trên đường đằng ấy về, tự vệ và cứu thương các làng, và cả
người làng nữa, chốc lại một bọn, xúm xít khiêng người bị thương,
người chết về.
https://thuviensach.vn
Những tự vệ và cứu thương ở mặt trận từ tờ mờ sáng, vừa đói, vừa
rét, mặt xanh xám nhợt nhạt. Hơi thuốc súng còn quấn theo họ
xuống tận đây. Người và quần áo, và cả như hơi thở, bốc mùi khét
lèn lẹt.
Tây đã tới được bên kia bờ nước, chỗ đầu Cổng Rong.
Đánh nhau đến giữa trưa thì Vệ quốc đoàn rút về. Có lẽ bọn
địch cũng hết hơi, không tiến được nữa, đã dừng lại bên ấy. Tự vệ
các làng chia nhau bám suốt bờ bên này, gác lên tận miếu Giời Ơi,
ngay bên đầm, trông thẳng sang chỗ địch đóng. Bởi vậy, hễ từ làng
ra, vượt bãi tha ma sang miếu, địch ở bên kia đã trông thấy. Từ
đền Voi Phục, phải bò, nấp, toài qua từng mô đất, từng nấm mộ,
mới đến trạm gác được. Thế mà lúc nãy có một anh vô ý, bò
xuống, đã bị một phát đạn vèo sang cắt ngọt mất một miếng
mông.
Ra đến đầu tha ma, Phấn và Mỳ bỏ quang gánh lại. Mỗi người
ôm một rổ cơm, thả xuống bãi cỏ, đẩy đi trước mặt, rồi toài theo.
Bỗng nhiên, như từ một chỗ nào không biết, một băng liên thanh xíu
xíu réo vuốt trên ngọn cỏ cao. Cái rổ đứng im. Hai người cũng nằm
im dưới chân cỏ. Một lát, im lặng trở lại, bàn tay người lại giơ ra đụng
đậy cỏ đẩy cái rổ đi. Từng tràng liên thanh lại thun thút réo qua. Lại
đứng im, rồi lại bò. Cứ thế, mãi đến khi trông thấy chân tường
miếu Giời Ơi đen sì lấp sau mô đất cao, đoán đã có thể đội rổ đứng
lên được, thì cũng lúc ấy trời nhọ mặt người.
Có tiếng khàn khàn trong bụi rậm:
- À cơm ra, cơm ra…
https://thuviensach.vn
Mỳ và Phấn đã đứng lên, bê từng rổ cơm vào. Có một tiểu đội, cả
thảy chín, mười người trong miếu, xô đến, xúm quanh hai cái rổ đặt
giữa nền nhà. Phấn sắp xếp, rồi vào chỗ đội trưởng Trường cũng
đương ngồi nhồm nhoàm giữa các người quanh rổ cơm. Mấy hôm
nay mới lại được hạt cơm vào bụng. Ăn cải bắp luộc, chén thịt chó
bẹc giê không muối mãi, đã phát khiếp! Bây giờ, người nào cũng
mải ăn, quên, không ai để ý đến hai chị tiếp tế. Đến đỗi cả người
trạm gác cũng bổ vào vác một nắm cơm ra đứng nhai trong bụi cây.
Phấn bảo Trường:
- Anh cho chúng tôi khẩu lệnh để về.
Đội trưởng Trường lúc ấy mới nhìn ra cái sân miếu mờ mờ,
nhưng cũng không biết đấy là trời sáng trăng hay còn nhá nhem
tối, Trường cứ nói:
- Mai về sớm. Bây giờ khó đi lắm.
- Chúng tôi đi được!
- Vệ quốc đoàn gác dọc đường, không có khẩu lệnh nào đi suốt
nổi ba cây số được.
Tiếng khàn khàn chõ từ ngoài tường hoa vào nói đùa.
- Ở đây cho vui, các cô ạ. Tối ngày phiên mà nhà vẫn dệt cửi,
không nghỉ à?
- Cái anh này lúc nào cũng đùa được thôi!
Đội trưởng Trường ngó ra, gằn giọng, nửa mắng, nửa ra lệnh:
https://thuviensach.vn
- Ông ổng như chó cắn ấy à! Nó trước mặt kia kìa. Lại sắp ăn
thuốc lào hả? Cấm đấy! Này, tớ nhắc lại: hễ khẩu lệnh hai tiếng
hỏi mà không trả lời thì bắn lập tức.
Hai chị tiếp tế không đòi về nữa.
Cái miếu trở lại im lặng. Và thế là bắt đầu một đêm gác ngoài
mặt trận. Những người thợ dệt, thợ tơ trong các làng canh cửi, hôm
qua còn không biết thế nào là súng ống, bây giờ bỗng nhiên
nghiêm trang cầm giữ cả mặt trận đánh nhau với Tây.
Mùi đất ải trong tường mốc xông lên nặng nề, hâm hấp. Nghe
cả tiếng con dế tanh tách đạp càng. Thỉnh thoảng, xa xa, ầm một
tiếng nổ, rồi im. Vừa lúc nãy, bắc cái ống nhòm của đội trưởng
ngó sang còn nhìn rõ bờ bên kia bờ nước có thằng Tây quần áo
vàng lốp ngồi gác trong bờ tường nhà dầu Tam Đa, bây giờ đã mù
mịt sương, không thấy gì nữa. Thế là trên bãi tha ma và trong cái
miếu hoang im lặng này lại như không có vẻ là đương gay go. Lại từa
tựa những đêm cuối năm ngày trước, trai gái trong làng đi chợ Tết,
thường hẹn gặp nhau cùng đi, đợi ở cửa miếu “Giời Ơi, Ông Bảo”.
Trong bóng tối rét ngọt, chốc chốc lại rì rào khúc khích vài đốm
lửa thuốc lào.
Đội trưởng Trường ngồi bên tường, thanh kiếm dài chống trước
mặt. Mấy đêm nay Trường mất ngủ, mắt ráo trong. Hai bên hành
lang, người nằm thành những hình thù co quắp dựa tường, dựa
chân cột. Nhiều người đã lăn ra ngủ từ lúc buông tay hết nắm
cơm. Có chỗ vừa nghe lầm rầm chuyện đã khò khò ngáy rồi.
Trường cũng mỏi lắm. Nhưng có lúc Trường vẫn thấy khỏe. Cứ thế,
mải mê. Nhất là lúc này ngồi tựa tường, trông sang bóng các khuôn
mặt trăng trắng, mờ mờ, thế mà Trường nhận thấy ngay ra Phấn.
https://thuviensach.vn
Trường bồn chồn. Mấy hôm nay, Trường cũng như các anh em
đây, cuộc đời họ cuốn vào những điều xưa kia không bao giờ biết.
Cũng không ai có thể hiểu tại sao. Khung cửi, guồng tơ, chuyện làng
chuyện xóm hôm qua, vứt đi hết. Bây giờ, nhận ra Phấn và nhớ lại,
Trường muốn trò chuyện. Trường mới nhớ lại cái làng ta bình
thường mọi khi. Có khung cửi, có hội tháng Ba và cứ năm ngày một
phiên chợ lụa… Nhưng Trường cũng không biết nên nói chuyện gì,
đầu óc miên man, phảng phất. Rồi Trường băn khoăn, loay hoay
tự hỏi một câu không thể cắt nghĩa (và cũng để tìm chuyện tự vặn
mình): Sao Phấn không ra đây một mình?
Bên kia bệ đất, nghe tiếng Mỳ nói nho nhỏ: “Lạnh lưng quá”. Mỳ
vẫn thức. Mỳ vốn ngăm ngăm đen, mặt lẫn bóng tối. Trường không
nhìn thấy Mỳ tinh tường như thấy Phấn được. Tiếng Mỳ lại nói:
- Có trông thấy gì không, Phấn?
Phấn co ro đứng ra, nghển lên mặt tường hoa.
- Nó bò đến tận nơi cũng chẳng biết. Sương hồ Tây nhiều quá.
Trường nói khẽ:
- Cô Phấn, vào đi…
Phấn lại ngồi vào bóng tối lúc nãy.
- Anh Trường thức à? Rét không thể ngủ được.
- Nó hay bắn sang chỗ tường hoa lắm đấy.
Nói xong, Trường thấy hình như không phải mình muốn nói câu
ấy. Cũng như Trường muốn bảo: “Đừng ai nói, cái tiếng ban đêm
https://thuviensach.vn
nó vang xa lắm”, Trường không nói như thế. Trường muốn nói
một chuyện gì, một câu gì mà chưa tìm ra. Nhưng, xung quanh lặng
im quá, Trường thấy ngại. Vả lại, cả Mỳ vẫn thức ngồi đấy. Thế là
Trường lại chỉ ngồi và lặng lẽ nhìn sang hình khuôn mặt trăng trắng
tựa cột bên kia - chỉ ngồi cách nhau, có thể thò chân ra thì đụng
được. Sương lùa vào chỏm mũi lạnh ngắt. Trong lòng thoáng buồn
buồn. Từ hôm mặt trận lan tới, nay mới thấy mình nhơ nhớ như
thế.
Trường với Phấn, nhà mỗi người một xóm. Thật ra, không ai bận
đến nhau, cũng không hề có điều tiếng với nhau. Nhưng, cùng
một lứa tuổi. Bao giờ cũng vậy, trai gái trong làng và cùng một lứa
tuổi, thì mọi câu chuyện, họ thường tự nhiên nói đến nhau. Trai mới
lớn lên đều thuộc những loạt con gái bằng chà bằng lứa. Trường và
Phấn không hề bận gì với nhau, thật đấy, nhưng họ tưởng họ đã
biết nhau và hằng bận nghĩ tới nhau. Trường bỗng nhớ ra một câu
chuyện đã quên hẳn. Nhưng khi này nhớ thì lại tưởng là một chuyện
thấm thía vẫn nhớ. Tết năm ngoái, bọn Trường đi chơi sang làng
trên, gặp Phấn và mấy cô xóm dưới đi chùa. Hai cánh gặp nhau,
năm mới nói đùa cợt ra sao, Trường không nhớ. Trường chỉ nhớ mỗi
lần quay lại, thì hai bên lại cười. Bọn Trường hẹn nhau, nếu gặp
“chúng nó” ở đâu lại trêu nữa. Nhưng rồi Tết ấy cũng không gặp
lại ở đâu cả. Vả chăng, trong ngày Tết đầm ấm còn gặp biết bao
toán con gái khác, thế là rồi cũng nhãng đi. Thế mà, sao lúc này,
Trường bỗng nhớ lại mồn một. Cái anh chàng thợ cửi mà các bạn
thường chế giễu và ghen tị rằng anh ta có “số đào hoa” ấy đương
tơ tưởng lại lúc sáng, khi anh ta đến chỗ ban tiếp tế gặp Phấn. Và
sự tơ tưởng đã bắt đầu từ chỗ ấy, làm cho lòng Trường cứ dào dạt
vui lại man mác buồn. Trường cất tiếng khẽ hỏi Phấn:
https://thuviensach.vn
- Cô Phấn có nhớ Tết Độc lập năm ngoái không?
Phấn và Mỳ rúc rích cười. Nhưng Phấn trả lời ra một câu khác:
- Tết năm nay vui như năm ngoái chứ!
- Nhất định rồi. Tết kháng chiến phải vui hơn Tết năm
ngoái.
- Liệu có diễn kịch được không?
- Có chứ.
- Nữ giả hay nữ thật, ai đóng đấy?
Hai cô lại cười. (Tết năm ngoái, thanh niên làng chơi kịch, những
vai nữ đều là con trai đóng).
Cả mấy người nằm ngả nghiêng quanh đấy bỗng cũng cục cục
cười. Thì ra, họ tỉnh ngủ, không biết từ lúc nào. Có lẽ từ lúc hai cô
này cười nói. Tiếng nói cười của hai người con gái giữa miếu vắng,
giữa đám thanh niên đương nằm trước mũi súng, cũng như khói
thuốc lào bay vào mũi người nhịn quá bữa, sao mà cái khói nó làm
tỉnh người thế. Từ lúc ấy, những tiếng cười cứ bật lại tắt, bật lại
tắt theo câu chuyện, theo câu dậm dọa của đội trưởng.
- Năm nay các anh cắt cho tôi một vai kịch.
- Hoan hô!
- Có nữ thật rồi!
Một tràng liên thanh lia dài qua bãi tha ma. Câu chuyện bặt im.
Người nằm quanh chồm cả dậy, ngơ ngác một lát, rồi lại nằm
https://thuviensach.vn
xuống. Trường lặng lẽ, chống kiếm, đứng quỳ một gối, quay mặt
ra cửa, quan sát. Phấn bò men tới, hỏi khẽ:
- Nó tấn công hả?
- Chưa biết.
Đất lạnh như đá thấu vào gan bàn chân lên đến đầu gối,
tưởng buốt tê cả người đến nơi.
Tiếng moóc-chi-ê nhịp đôi oàng xuống, ngay sau tường. Những
gã mê ngủ nhất cũng choàng dậy. Có người hoảng hốt chạy ra ngoài
bụi dứa. Trường bắc hai tay lên làm loa, quát khẽ:
- Lui vào, lui cả vào đầu tường. Đề phòng địch tấn công…
Nhưng, một lúc rất lâu, không thấy động dạng gì. Chỉ có tiếng
moóc-chi-ê oàng oàng cầm canh. Không còn ai ngủ được. Nhưng
cũng không đề phòng nữa. Cả bọn cứ thức và lại chuyện gẫu. Câu
chuyện moóc-chi-ê lại xoay quanh bàn bạc năm nay Tết thế nào, ở
đâu.
Rồi có một lúc Phấn nhìn ra ngoài trời sương, ngạc nhiên, nửa
nói, nửa hỏi:
- Sáng rồi à?
Nhiều người nhìn ra:
- Sáng rồi.
Trường nói:
- Chóng hết đêm quá, cô Phấn nhỉ!
https://thuviensach.vn
Đội tự vệ làng dưới đã bò ra đổi gác. Trường và các bạn trở về. Họ
tuồi qua bãi tha ma sương mù im lặng, rét tái người, quần áo ướt
sũng.
Đã về qua đầu làng. Tiếng moóc-chi-ê chỉ còn vọng đằng sau
lưng. Bấy giờ Trường quay lại, nói với cả bọn đi sau:
- Tết năm ngoái chúng mình gặp bọn cô Phấn đi chùa qua chỗ
này.
Thật thì không phải ở chỗ ấy. Trường nói hươu chơi thế thôi. Và
chẳng biết Phấn có nhớ không, Phấn cười:
- À, ở chỗ này à?
Rồi Phấn hỏi:
- Vở kịch Tết năm nay, có khó đóng thật không, anh Trường?
- Nhất định cô Phấn làm một vai.
Cả bọn cùng cười to. Trường trông thấy cái đuôi mắt Phấn liếc
mình.
Họ lại râm ran chuyện Tết và diễn kịch. Không gặp người, nhưng
nếu gặp, chắc không ai tưởng những người đương vui chuyện ấy
vừa thức trắng đêm.
Và những đêm sau nữa cũng thế.
*
* *
Mặt trận vẫn đứng lại bên kia bờ hồ Tây chỗ Cổng Rong.
https://thuviensach.vn
Đội tự vệ gác ở miếu Giời Ơi nhìn sang hôm nào cũng thấy một
lính Tây gác mặc áo vàng lốp, ngồi nguyên một chỗ bờ tường nhà
dầu Tam Đa.
Vệ quốc đoàn rút đi nơi khác rồi. Chỉ còn lại đội tự vệ các làng.
Nhưng làng nào cũng chạy loạn hết, không còn ai tiếp tế, tự vệ
phải đi kiếm ăn lấy để có sức gác. Bữa đói bữa no thất thường. Tuy
nhiên, lúc nào tụ lại chỉ toàn gẫu chuyện Tết sắp đến.
Thế rồi Ba mươi Tết đã đến.
Hôm ấy, lạ lùng chưa, nhìn sang bờ nước không thấy thằng nào
gác bên kia. Cái ống nhòm của đội trưởng Trường được mọi người
thay nhau nhòm sang nhiều lần cũng không thấy nó. Hay là
chúng nó rút lên đóng trên đường Thành rồi? Thế là đội tự vệ
quyết định về làng, ngay trong đêm nay. Việc làm quả quyết được
đội trưởng Trường đồng ý. “Phải về ăn Giao thừa ở làng mới được.
Có bao giờ Tết lại bỏ làng đi! Các cụ dưới âm về không thấy con
cháu thì các cụ chửi chết”. Thế là ai nấy đều hào hứng.
Đêm Ba mươi, cách ba bước không trông thấy gì. Tối quá.
Nhưng rất nhanh, nh...
 
SÁCH THAM KHẢO
(79 bài)
SÁCH GIÁO KHOA (MỚI)
(104 bài)







Các ý kiến mới nhất